Từ ngày 31/12/2018, các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu tôm và bào ngư vào Mỹ sẽ phải tuân thủ thêm quy định mới về “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi”.
Phải có hồ sơ “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi”
Chương trình giám sát nhập khẩu thủy hải sản vào Mỹ (SIMP – doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này vào Mỹ phải được cấp phép nhập khẩu tại Hệ thống giấy phép Quốc gia Hoa Kỳ) do Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Mỹ (NOAA) chịu trách nhiệm quản lý, sẽ chính thức có hiệu lực vào 31/12/2018.
Với quy định mới này, các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu tôm và bào ngư vào Mỹ phải tuân thủ thêm hàng loạt quy định về khai báo dữ liệu đối với quá trình nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, vận chuyển và nhập khẩu (tạm gọi là hồ sơ “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi”).
Hiện các doanh nghiệp bán hàng cho Mỹ đã phải tuân thủ các quy định về nhập khẩu của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Thêm quy định của NOAA nữa sẽ thêm chi phí.
Ngoài ra, NOAA quản lý khác FDA, không có chuyên gia tới tận Việt Nam để kiểm tra, giám sát doanh nghiệp đột xuất hay lấy mẫu kiểm tra ngay khi hàng cập cảng, mà chỉ quản lý chuyện nhập khẩu thủy hải sản vào Mỹ dựa trên các tài liệu, chứng cứ xác thực (cả bản “cứng” lẫn bản khai báo online) tại hồ sơ “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi”.
Chia sẻ tại cuộc hội thảo “Chương trình Giám sát nhập khẩu thuỷ hải sản vào Mỹ” được tổ chức giữa NOAA và Hiệp hội Chế biến & Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) tại TP.HCM, bà Celeste Leroux, chuyên gia của NOAA, cho biết doanh nghiệp tại Việt Nam phải cung cấp tất cả tài liệu cho nhà nhập khẩu ở Mỹ. Nhà nhập khẩu tại Mỹ sẽ thay mặt bên bán là doanh nghiệp Việt Nam lập hồ sơ “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi” để xin cấp phép tại NOAA. Điều kiện đầu tiên là nhà nhập khẩu phải có thường trú nhân, có giấy phép kinh doanh, địa chỉ rõ ràng tại Mỹ.
Theo đó, doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị cho hồ sơ trên gồm có: tên khu vực nuôi trồng/đánh bắt (được chính quyền cấp phép), loại ngư cụ được sử dụng trong đánh bắt, tên loài thủy hải sản, trọng lượng, điểm đầu tiên bốc dỡ hàng vào Mỹ, ngày cập bờ, cảng cập bờ, điểm giao hàng, tên đơn vị được giao nhận đầu tiên…
Tuy nhiên, NOAA không buộc những cơ sở đánh bắt nhỏ (tàu đánh cá từ 12 mét chiều dài hoặc từ 20 tấn tổng trọng tải trở xuống) hoặc nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ (có những lô hàng bán cho doanh nghiệp xuất khẩu từ 1.000 kg/ngày trở xuống) phải có giấy phép nuôi trồng/đánh bắt, tên/địa chỉ tàu đánh bắt/trang trại nuôi trồng. Doanh nghiệp thu mua những lô hàng quy mô nhỏ chỉ cần làm một báo cáo thu hoạch tổng hợp theo từng ngày.
Bà Celeste Leroux khuyến nghị: “Doanh nghiệp Việt nên “giục giã” các nhà nhập khẩu hay môi giới kê khai hoặc liên tục cập nhật dữ liệu điện tử về từng lô hàng đang trên đường vận chuyển trước khi đến Mỹ từ 5-10 ngày. Vì NOAA sẽ đối chiếu với hồ sơ ngay khi hàng cập cảng. Vì sau thông quan, NOAA vẫn có thể kiểm tra các lô hàng nhập khẩu này nếu cảm thấy “có vấn đề. Mục tiêu kiểm tra là gì còn tùy thuộc vào quan ngại của NOAA cho từng trường hợp cụ thể. Tần suất kiểm tra ra sao chúng tôi cũng chưa thể nói được”.
Doanh nghiệp Việt muốn xuất khẩu phải lập pháp nhân tại Mỹ?
Các doanh nghiệp tham dự hội thảo tỏ ra lo lắng khi sẽ phải tốn kém nhiều chi phí thời gian, công sức và tiền bạc để hoàn chỉnh bộ hồ sơ “truy xuất nguồn gốc theo chuỗi” dù lệ phí hồ sơ truy xuất nguồn gốc theo chuỗi nộp cho NOAA chỉ là 30 USD.
Theo quy định mới, nhà nhập khẩu đăng ký hồ sơ cho người bán ở Việt Nam tại NOAA phải là thường trú nhân. Điều này khiến cho các nhà môi giới tại Mỹ bất an bởi họ phải “đứng mũi chịu sào” thay cho doanh nghiệp Việt nếu có sự cố xảy ra.
Nếu không doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải lập pháp nhân và đăng ký kinh doanh tại Mỹ, rồi tự đứng đơn kê khai hồ sơ truy xuất nguồn gốc theo chuỗi (tại NOAA) cho công ty mẹ muốn xuất khẩu tôm ở Việt Nam. Tuy nhiên, rất nhiều nhà xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam không đủ lực để đi theo con đường này.
Ngoài các quy định mới nêu trên, doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản Việt Nam còn phải có đủ bằng chứng về nguồn gốc thủy sản từ mỗi người nuôi trồng/đánh bắt nếu đó là lô hàng bán vào nhà máy hơn 1.000kg nguyên liệu/ngày, nghĩa là mỗi người nuôi phải cung cấp đủ địa chỉ nuôi trồng và giấy phép sản xuất.
Theo ông Võ Văn Phục, Chủ tịch CTCP Thủy sản sạch Việt Nam, rất nhiều nông dân Việt Nam nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ theo quy hoạch của địa phương hoặc Chính phủ nên họ chỉ cần đăng ký với phường xã chứ không cần phải có giấy phép gì khác. Còn doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu mua gom tại các nông hộ này và giám sát chất lượng về dư lượng kháng sinh, tạp chất, kích cỡ, chủng loại…. Giờ đòi các nông hộ về các giấy phép mà là những giấy phép gì cũng chưa biết và do cơ quan chức năng nào cấp? Chỉ còn 5 tháng nữa cho chương trình SIMP đối với tôm và bào ngư có hiệu lực, vậy sẽ rất khó cho cả doanh nghiệp và nông dân.
Trước thực tế của việc nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam, ông Trần Đình Luân, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết, ở các nước phát triển, nuôi trồng thủy sản đa số là sản xuất lớn nên đều có đăng ký với cơ quan chức năng để được cấp phép. Tổng cục sẽ cố gắng làm rõ với NOAA, để họ hiểu hơn về thực tế mô hình nuôi tôm nhỏ lẻ cũng như cách thức quản lý của Việt Nam.
Còn vị chuyên gia tư vấn đến từ NOAA, bà Celeste Leroux, cho rằng NOAA sẽ trao đổi lại với các nhà hoạch định chính sách, cũng như làm việc với Tổng Cục Thủy sản Việt Nam trước khi có thể đưa ra câu trả lời cuối cùng.
|
Tổng thư ký VASEP Trương Đình Hòe: Tôm Việt Nam chiếm 10% thị phần tại Mỹ
Hiện nay, thị trường Mỹ nhập khẩu khoảng 600.000 tấn tôm các loại mỗi năm, trong đó tôm từ Việt Nam ước khoảng 55.000 – 60.000 tấn (khoảng 10% thị phần tôm nhập khẩu tại Mỹ).
Chương trình SIMP đã khởi động từ đầu năm 2014, và thực tế đã áp dụng cho một số loại sản phẩm. Từ 01/01/2019 sẽ áp dụng luôn cho sản phẩm tôm và bào ngư. Mối quan tâm lớn của Việt Nam là sản phẩm tôm vì là mặt hàng xuất khẩu lớn. Tôm Việt Nam đa số là tôm nuôi trồng, không phải khai thác nên điểm cần làm rõ là chương trình SIMP cần những quy tắc cụ thể hơn nữa cho hoạt động nuôi trồng thay vì áp dụng như các thông báo chung như hiện nay. Tôi hy vọng phía Hoa Kỳ có thể nhanh chóng hoàn thiện chương trình cụ thể hơn để giúp việc xuất khẩu của các doanh nghiệp không bị gián đoạn vào đầu năm 2019 tới.
Với cách tiếp cận của Mỹ thì mục đích là đưa con tôm vào chương trình giám sát vì họ quan tâm tới các gian lận thương mại trong xuất khẩu tôm vào Mỹ hiện nay. Về hồ sơ khai báo không có gì vượt quá tầm tay của chúng ta. Thực tế nhiều năm qua Việt Nam đã xuất khẩu các sản phẩm tôm vào thị trường Mỹ với giấy chứng nhận của BAP (Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhất) và xuất khẩu vào Châu Âu với chứng nhận ASC (Hội đồng quản lý nuôi trông thủy sản), trong đó cũng có đề cập tới chuyện truy xuất nguồn gốc.
Vấn đề là Việt Nam cần phải hệ thống lại và chuẩn hóa các thông tin được cung cấp và lưu giữ hồ sơ chuẩn mực thì xuất khẩu mới ổn định và tiếp tục tăng trưởng được
Hiệp hội còn 5 tháng từ đây tới cuối năm sẽ nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp, liên hệ nhà nhập khẩu thử nghiệm khai báo “tập dượt” để không bị gián đoạn khi quy định đi vào hiệu lực. Hiệp hội cũng sẽ làm việc với Bộ Nông Nghiệp và Tổng cục Thủy sản để làm rõ một số quy định về vùng nuôi trong quy hoạch hoặc làm sao để đảm bảo độ tin cậy cho các thông tin được thẩm tra thẩm định theo pháp luật Việt Nam, tạo tâm lý tốt cho nhà nhập khẩu để họ có thể khai báo suôn sẻ tại NOAA.
|
HOÀNG ANH
