Người Trung Quốc chỉ rõ những sai lầm của hàng Việt


Doanh nghiệp Việt Nam sai lầm khi cho rằng thị trường Trung Quốc “ăn khỏe, dễ tính” nên cái gì cũng bán được.

Hơn 60% hàng hóa nông sản Việt Nam đi qua con đường tiểu ngạch nên gặp nhiều rủi ro từ nhập khẩu cho đến thanh toán và chính sách bán hàng. Ông Vĩ Tích Thành, Tham tán thương mại và kinh tế Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM, nhận xét như trên tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả tiếp cận thị trường Trung Quốc cho nông sản Việt” vừa tổ chức ở TP.HCM.
Ăn khỏe nhưng không phải cái gì cũng ăn
Theo ông Vĩ Tích Thành,  sau khi cải cách kinh tế, thu nhập bình quân đầu người ở Trung Quốc gia tăng lên 8.000 USD/năm. Điều này kéo theo tầng lớp trung lưu gia tăng, do đó với người dân Trung Quốc nhu cầu ẩm thực rất quan trọng và người dân rất “biết ăn, thích ăn và ăn rất khỏe”.
Trung Quốc đang tăng cường nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu người dân nhưng người dân đang dần chuyển dịch xu hướng từ ăn no sang ăn ngon. “Hàng nông sản Việt Nam có lợi thế về đường vận chuyển sát biên giới Trung Quốc. Thị trường Trung Quốc đã biết rất rõ về nông sản Việt Nam như thanh long, gạo, cá ba sa, hạt điều, cà phê… Nhưng nông sản Việt vào Trung Quốc còn khó khăn vì có nhiều điểm yếu”, ông Thành nói.
Ông Thành dẫn chứng các doanh nghiệp (DN) nhỏ và siêu nhỏ thường xuất khẩu qua đường tiểu ngạch và thương lái Trung Quốc khi đi mua cũng thường áp dụng hình thức này. Trong khi xuất khẩu tiểu ngạch không bền vững, rủi ro rất cao. Ví dụ, do không dự báo trước nhu cầu nên nông dân sản xuất ồ ạt một sản phẩm nông nghiệp nhưng thương lái lại không thu mua. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nông sản Việt được mùa thì lại mất giá, phải triền miên giải cứu, thậm chí phải đổ bỏ.
Vị tham tán thương mại và kinh tế Trung Quốc cũng nhận xét thẳng thắn rằng người Việt chưa hiểu về thị trường Trung Quốc và DN chưa chủ động xem thị hiếu, nhu cầu của người dân Trung Quốc là gì để từ đó tập trung sản xuất. Dẫn câu chuyện về việc cá ba sa nhập nhiều vào Trung Quốc thời gian qua, ông Thành cho rằng do Việt Nam biết cách quảng bá thương hiệu loài cá này. “Các nông sản khác của Việt Nam cũng nên học tập cách làm như với cá ba sa”, ông Thành gợi ý.
Còn ông Rocky Sun, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Trung Quốc khu vực Đông Nam Á, chỉ ra điểm yếu của DN Việt Nam là không biết cách quảng bá sản phẩm và chưa có nhiều sản phẩm có chất lượng tốt vào Trung Quốc. Vì vậy người tiêu dùng Trung Quốc, nhất là ở các thành phố lớn không có ấn tượng sâu sắc về hàng nông sản Việt Nam.
Ông Sun dẫn chứng: “Hiện nay 99% thanh long tại Trung Quốc đều được nhập khẩu từ Việt Nam. Đáng tiếc khâu truyền thông về thế mạnh của thanh long Việt Nam gần như không có. Gần đây thanh long vào Trung Quốc mới có bao bì bắt mắt, tuy nhiên vẫn còn ít”.
Lấy thêm ví dụ từ quả kiwi từ New Zealand, cam từ Mỹ, jerry của Chile…, ông Rocky Sun cho rằng: Những quốc gia trên có quy trình nhập khẩu chính ngạch từng loại trái cây vào Trung Quốc rất bài bản, chuyên nghiệp và thương hiệu phát triển rất tốt tại Trung Quốc nhờ tập trung một đầu mối.
“Họ thống nhất được quy trình trồng, giống, gia công, đóng gói… với thương hiệu chung nên dễ làm truyền thông”, ông Rocky Sun nêu kinh nghiệm.
Không hiểu thị trường Trung Quốc
Ông Đỗ Ngọc Chất, Giám đốc Công ty Việt Á chuyên xuất khẩu trái cây sang Trung Quốc, cho biết: Việt Nam nói nhiều về xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc để có giá trị tăng cao, đảm bảo thanh toán, giảm rủi ro. Thế nhưng Trung Quốc hiện chỉ cho phép tám mặt hàng nông sản chính ngạch gồm xoài, thanh long, mít, chuối, dưa hấu, vải, nhãn và chôm chôm.
“Vậy còn các mặt hàng khác buộc phải đi đường tiểu ngạch, trong khi nhiều nông sản khác của Việt Nam rất mạnh như khoai lang, bưởi, sầu riêng… Vậy thì chúng tôi xuất khẩu như thế nào?”, ông Chất đặt câu hỏi cho các vị quan chức Trung Quốc và Việt Nam.
Trả lời thắc mắc này, ông Lê Thanh Hòa, Phó Giám đốc văn phòng SPS Việt Nam (Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản, Bộ NN&PTNT), cho rằng đúng là nhiều nông sản Việt Nam chưa thể xuất khẩu chính ngạch vì liên quan đến các vấn đề như đàm phán của chính phủ hai nước về thủ tục, kiểm dịch…
“Đến thời điểm hiện nay, hai bên đã đàm phán xong hai loại nông sản là bưởi da xanh, khoai lang. Các mặt hàng này sẽ được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc trong thời gian tới. Sầu riêng cũng đang được phía Việt Nam gửi hồ sơ sang Trung Quốc đánh giá”, ông Hòa nói.
Trong khi đó, ông Rocky Sun, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Trung Quốc khu vực Đông Nam Á, lưu ý người dân Trung Quốc cũng rất chú ý đến việc truy xuất nguồn gốc, làm được điều này sản phẩm Việt Nam bán rất tốt.
Ngoài ra, thay vì việc sản xuất và thu mua nhỏ lẻ nên có vài thương nhân lớn đứng ra làm đầu mối để các quy trình được thống nhất. Muốn làm lớn thì phải liên kết lớn, mạnh ai nấy làm thì sẽ không thể nào mạnh được.
Cung cấp thông tin miễn phí nhưng không ai hỏi
Ông Vũ Tiến Hùng, Trưởng Văn phòng Xúc tiến thương mại Việt Nam tại Hàng Châu (Trung Quốc), nhận xét DN Việt Nam tưởng rằng mình hiểu rõ thị trường Trung Quốc nhưng thực tế lại chưa có nhiều thông tin về thị trường này, mặc dù tại đây có đến bảy cơ quan đại diện Việt Nam.
“Rất ít thấy DN Việt Nam gặp chúng tôi để hỏi chính sách, thủ tục xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc dù các cơ quan này cung cấp thông tin hoàn toàn miễn phí. Chưa kể có thể giúp DN kết nối với các cơ quan hữu quan Trung Quốc để hưởng được các ưu đãi tốt nhất”, ông Hùng nói.
Thương lái Trung Quốc đều rất sõi tiếng Việt
Theo ông Ưng Thế Lãm, đại diện Câu lạc bộ Nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam (DAA), thừa nhận bản thân ông đã từng xuất khẩu tiểu ngạch thanh long sang Trung Quốc nhưng thất bại vì chưa hiểu thị trường.
“Thương lái Trung Quốc đến tận làng Việt Nam thu mua vì chúng ta chưa có năng lực mang hàng sang đó bán. Tham tán thương mại, DN, thương lái Trung Quốc ở Việt Nam đều nói rất sõi tiếng Việt, hiểu văn hóa Việt trong khi người Việt Nam ra nước ngoài chủ yếu nói tiếng Anh. Đó là lý do các công ty Việt Nam chỉ dám bán hàng bên này biên giới để tránh rủi ro”, ông Lãm nói. 

Theo Pháp Luật TP.HCM