Việt Nam chi hơn 53 tỷ USD nhập hàng hóa


Theo thống kê, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 10,3 tỷ USD, tăng 30,2%; điện thoại và linh kiện đạt 3,4 tỷ USD, tăng 17,2%; xăng dầu đạt 2,2 tỷ USD, tăng 37,1% (lượng tăng 20,1%); chất dẻo đạt 2,1 tỷ USD, tăng 21,5% (lượng tăng 13,8%); kim loại thường khác đạt 1,5 tỷ USD, tăng 19,9%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,4 tỷ USD, tăng 15,3%; sản phẩm hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 15,9%; hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 22,9%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 14,3 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp tăng: Điện thoại và linh kiện tăng 30%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 6,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 5,6%.

Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 11,9 tỷ USD, tăng 19%, trong đó, điện tử, máy tính và linh kiện tăng 52,8%; điện thoại và linh kiện tăng 13,6%.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I ước đạt 54,31 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14,97 tỷ USD, tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 39,34 tỷ USD, tăng 23,2%. 

Một số mặt hàng chủ lực quý I năm nay vẫn duy trì tốc độ tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 12,3 tỷ USD, tăng 58,8%; hàng dệt may đạt 6,3 tỷ USD, tăng 12,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,3 tỷ USD, tăng 13,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,5 tỷ USD, tăng 22,3%; giày dép đạt 3,5 tỷ USD, tăng 10,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,1 tỷ USD, tăng 20,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 8%; thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, tăng 11,2%; rau quả đạt 950 triệu USD, tăng 35,6%; sắt thép đạt 949 triệu USD, tăng 43,3%.

Một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Dầu thô đạt 509 triệu USD, giảm 21,1% (lượng giảm 36,5%); cao su đạt 408 triệu USD, giảm 19,8% (lượng tăng 10,5%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 277 triệu USD, giảm 5,3% (lượng giảm 27,7%); hạt tiêu đạt 190 triệu USD, giảm 41,3% (lượng giảm 2%).

P.V