Văn bản kiểm tra chuyên ngành vẫn ‘gây khó’ cả hải quan và doanh nghiệp





() – Thực hiện Nghị quyết 19 của Chính phủ, năm qua việc cải cách thủ tục hải quan và quản lý, kiểm tra chuyên ngành với hàng xuất nhập khẩu đã có bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, những kết quả trong việc cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành vẫn cách xa so với kỳ vọng.




Hải quan Hải Phòng bố trí địa điểm làm việc tập trung cho các lực lượng chức năng ngay tại cửa khẩu.





Báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết 19 năm 2017 của Chính phủ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện đã dành một phần nội dung lớn đánh giá chi tiết về tình hình và kết quả thực hiện các yêu cầu về quản lý chuyên ngành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. 
100% quy trình, thủ tục đã được tự động hóa

Theo đó, việc cải cách thủ tục hải quan và quản lý, kiểm tra chuyên ngành đã có những kết quả tích cực. Về thủ tục hải quan, Bộ Tài chính đã ban hành và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 4 văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện các thủ tục hải quan nhằm tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp (DN) trong thực hiện các quy định về thủ tục hải quan.

Thời gian thực hiện các thủ tục hải quan được rút ngắn đáng kể bởi 100% quy trình, thủ tục đã được tự động hóa trên phạm vi toàn quốc thông qua triển khai Hệ thống thông quan điện tử; thanh toán thuế xuất nhập khẩu cũng được thực hiện bằng phương thức điện tử. Kết quả đo thời gian thông quan tại một số cửa khẩu cho thấy, thời gian thực hiện thủ tục hải quan đã được rút ngắn so với trước đây. 
Hải quan Hải Phòng đã chính thức đưa Hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển vào hoạt động. Đây là hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển đầu tiên của ngành Hải quan triển khai tại Hải Phòng. Hệ thống này góp phần rút ngắn thời gian, chi phí làm thủ tục cho DN; tạo điều kiện hỗ trợ DN kinh doanh cảng, kho bãi, DN xuất nhập khẩu, hãng tàu; hỗ trợ hiệu quả việc kiểm tra, đối chiếu và đánh giá rủi ro, giám sát và kiểm soát hải quan; nâng cao tính tuân thủ của DN, ngăn ngừa gian lận thương mại.
Về quản lý, kiểm tra chuyên ngành, nhìn chung các bộ, ngành đã nắm rõ yêu cầu về cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành. Một số bộ đã có hành động cụ thể thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, thời gian DN thực hiện một số thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được rút ngắn hơn trước. Những chuyển biến trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành được cộng đồng DN ghi nhận, đặc biệt như trong việc kiểm tra an toàn thực phẩm, lĩnh vực DN gặp nhiều vướng mắc nhất. Thực  hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế đã phối hợp với các Hiệp hội ngành hàng thực phẩm rà soát tổng thể và xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 38 với nhiều nội dung đáp ứng yêu cầu của Chính phủ và kỳ vọng của DN. 
Danh mục mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành còn quá rộng
Bên cạnh đó, báo cáo cũng nêu ra những tồn tại, vướng mắc trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành, đó là số lượng văn bản điều chỉnh hoạt động kiểm tra chuyên ngành còn nhiều. Theo kết quả rà soát đến ngày 22/12/2017, trong năm 2017 có 29 văn bản pháp quy được ban hành điều chỉnh hoạt động quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Một số quy định đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, nhưng có văn bản gây trở ngại hơn cho DN. Thậm chí, có quy định ở văn bản mới ra còn mâu thuẫn và trái với các quy định của pháp luật hiện hành.
Theo thống kê của cơ quan hải quan (đến tháng 4/2017), có 414 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và kiểm tra chuyên ngành (gồm: 30 Luật; 97 Nghị định, Nghị quyết, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 287 Thông tư, Thông tư liên tịch, Quyết định của bộ, cơ quan ngang bộ).
Nếu tính thêm số văn bản ban hành sau tháng 4/2017, thì số lượng văn bản về quản lý và kiểm tra chuyên ngành khoảng 430 văn bản. Có thể thấy số lượng văn bản về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngày càng tăng, gây khó khăn cho DN và cơ quan hải quan trong việc theo dõi, cập nhật và áp dụng. Thậm chí, có quy định còn mâu thuẫn, quản lý chồng chéo.
Tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan vẫn chưa giảm (ở mức 30-35%), trong khi mục tiêu của Nghị quyết 19 đặt ra là giảm xuống còn 15% đến 2017.
Danh mục mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành quá rộng và có xu hướng ngày càng tăng, thậm chí có mặt hàng/nhóm mặt hàng mở rộng hơn so với phạm vi cho phép của luật. Vẫn còn sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa có khả năng gây mất an toàn (Danh mục hàng hóa nhóm 2) chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Quản lý chuyên ngành chồng chéo giữa các bộ vẫn chưa được cải thiện.
Đơn cử như trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tình trạng một mặt hàng phải chịu sự kiểm tra của nhiều đơn vị khác nhau cùng thuộc bộ đã và đang gây nhiều khó khăn cho DN. Hay theo phản ánh của DN thì Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNN) chỉ có 1 cán bộ phụ trách toàn bộ các công việc cấp giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá cho các DN trên cả nước nên thời gian thực hiện nhanh hay chậm, dễ hay khó hoàn toàn phụ thuộc vào cán bộ này. Tình trạng này tương tự như việc cấp văn bản đồng ý kiểm dịch tại Cục Thú y.
Do đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị yêu cầu các bộ liên quan thực hiện đầy đủ và kịp thời các nhiệm vụ, giải pháp về quản lý chuyên ngành theo yêu cầu của Nghị quyết 19 để sớm hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành trong năm 2018./.




H.Y