Tự chủ tài chính bệnh viện: Phải công khai, minh bạch trong hợp tác công – tư


(TBTCVN) – Việc thực hiện xã hội hóa các dịch vụ y tế đang diễn ra mạnh mẽ tại các bệnh viện (BV) tuyến trung ương, tạo nên sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.


Tìm hiểu về vấn đề này, phóng viên TBTCVN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Nam Liên, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính (Bộ Y tế).* PV: Xin ông cho biết những kết quả đạt được trong thực hiện tự chủ tài chính của các BV công lập ngành Y tế thời gian qua?  – Ông Nguyễn Nam Liên: Cơ chế tự chủ tài chính đã phát huy tính năng động, sáng tạo của các BV công trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, sắp xếp tổ chức lại bộ máy, sử dụng nguồn nhân lực và tài chính một cách có hiệu quả; huy động được nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; giảm chi thường xuyên từ ngân sách cấp cho các BV, giảm số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước (NSNN).

 

Đối với các BV trực thuộc Bộ Y tế quản lý trong năm 2017 và  2018 do thực hiện được giá dịch vụ có tiền lương, nên đã chuyển 12 BV từ nhóm tự đảm bảo một phần chi thường xuyên sang nhóm BV tự đảm bảo chi thường xuyên. Số đối tượng hưởng lương từ ngân sách giảm 25.362 người (của 24 BV), giảm chi 2.127 tỷ đồng/năm.

Ông Nguyễn Nam Liên​

 Để có được những kết quả trên, là nhờ có sự thay đổi tư duy trong quản lý theo hướng cơ quan quản lý nhà nước không làm thay, không can thiệp sâu và hoạt động nội bộ mà phải phân cấp, giao quyền tự chủ cho đơn vị. Phân loại đơn vị sự nghiệp, đơn vị có mức tự chủ về tài chính cao sẽ được tự chủ cao hơn về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. 
Bên cạnh đó, kiên trì, kiên định việc thực hiện lộ trình giá dịch vụ công theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí. Ngành Y tế chuyển chi thường xuyên từ NSNN cấp cho các BV sang hỗ trợ người dân tham gia BHYT, gắn với lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế. Khi giá dịch vụ được tính đúng, tính đủ thì sẽ có nhiều BV thực hiện được tự chủ về tài chính.
Ngoài ra, có các cơ chế, chính sách để hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số để các đối tượng này cũng được tiếp cận các dịch vụ y tế thông qua mua, hỗ trợ mua thẻ BHYT. Đồng thời, khuyến khích các BV công vay vốn, thực hiện xã hội hóa, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho y tế, tạo cạnh tranh bình đẳng về giá giữa các thành phần kinh tế trong khám, chữa bệnh.* PV: Có ý kiến cho rằng, trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính, vẫn chưa rạch ròi công – tư, nên việc huy động vốn đầu tư từ nguồn xã hội hóa để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại một số bệnh viện gặp phải khó khăn, theo ông các BV cần làm gì để giải quyết vấn đề trên?- Ông Nguyễn Nam Liên: Đúng là khó khăn nhất trong việc tự chủ, thực hiện xã hội hóa đối với đơn vị sự nghiệp công lập là phải rạch ròi công – tư. Quan điểm, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 19/NQ-TW, Nghị quyết số 20/NQ-TW của Hội nghị Trung ương 6 là ưu tiên đầu tư cho dự phòng, y tế tuyến cơ sở; các BV phong, tâm thần; các BV có điều kiện phải đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư; đa dạng hóa các hình thức hợp tác công – tư, cho phép liên kết, hợp tác giữa các cơ sở y tế công lập và tư nhân, nhưng phải công khai, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng… 
Do đó, nhiều BV đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng để đầu tư như: BV Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh, Viện Huyết học truyền máu Trung ương, BV Nội tiết Trung ương, BV Việt Đức, BV Trung ương Huế… Tuy nhiên, còn nhiều BV vẫn do dự trong việc đầu tư, do trách nhiệm vay và trả nợ ngân hàng lớn, lãi suất vay ngân hàng còn cao. 
Ngoài ra, việc hợp tác công – tư khó khăn, vướng mắc nhất là ở chỗ “lẫn lộn công – tư”. Trên thực tế, hợp tác công – tư trong BV công thì phải có tư trong công, vậy làm thế nào để minh bạch, công khai. Muốn vậy, các BV phải làm đúng quy định đó là công khai trong chủ trương hợp tác, phải được sự thống nhất trong cấp ủy, lãnh đạo, tổ chức công đoàn đơn vị. Đồng thời, phải công khai trong lựa chọn nhà đầu tư, trong xác định giá trị tài sản trong các dự án đầu tư phải theo quy định của nhà nước, trong việc cử viên chức, người lao động của BV sang làm tại khu vực xã hội hóa. Bên cạnh đó, cần minh bạch về thu – chi của các dự án hợp tác đầu tư, công khai giá dịch vụ, phân chia thu nhập…* PV: Từ thực tế trên, ông có kiến nghị, đề xuất gì để công tác tự chủ tài chính của các BV đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới?- Ông Nguyễn Nam Liên: Theo tôi, phải xây dựng được một hành lang pháp lý đầy đủ, gắn trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính, nhân lực của BV.
Giao quyền tự chủ phải gắn với khả năng tự chủ tài chính của BV. Mức tự chủ tài chính của BV cao thì được tự chủ cao hơn về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính. Các BV tự chủ tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư. BV tự bảo đảm chi thường xuyên có quy mô lớn phải có hội đồng quản lý để quyết định các vấn đề mang tính chiến lược, các vấn đề quan trọng của BV. Tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, tăng cường vai trò giám sát của người lao động…* PV: Xin cảm ơn ông!


Đức Việt