(TBTCVN) – Cùng góp sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tài chính – ngân sách năm 2017 của toàn ngành Tài chính, Hải quan Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu và tạo được những chuyển động tích cực và khá toàn diện.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai.
Trước thềm Xuân mới Mậu Tuất 2018, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai đã dành cho TBTCVN cuộc trả lời phỏng vấn, đánh giá về những kết quả hoạt động của ngành Hải quan trong năm 2017 và những nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong năm 2018.
* TBTCVN: Thưa Thứ trưởng, ngay từ đầu năm 2017, Thứ trưởng đã có chỉ đạo ngành Hải quan phải tập trung tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), phát huy các giải pháp để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu (XNK), hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quản lý thu ngân sách. Xin Thứ trưởng một vài nhận xét về những kết quả trong hoạt động của ngành Hải quan trong năm 2017?
– Thứ trưởng Vũ Thị Mai: Có thể thấy rằng, năm 2017, thực hiện sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Tài chính và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, Tổng cục Hải quan đã nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, với những kết quả đáng ghi nhận.
Kết quả nổi bật của ngành Hải quan năm 2017 đó là việc triển khai hiệu quả các đề án cải cách TTHC, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách.
Cụ thể, năm 2017, dự toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) được giao là 285.000 tỷ đồng, tăng 4,7% so với thực hiện thu NSNN năm 2016. Đến hết 31/12/2017, thu NSNN của ngành Hải quan đã đạt 297.082 tỷ đồng, vượt 4,24% (tương ứng 12,82 nghìn tỷ đồng) so với dự toán được giao, tăng 9,47% so với cùng kỳ năm 2016.
Đây là một thành tích rất xuất sắc của ngành Hải quan, đóng góp quan trọng vào nguồn thu của NS trung ương và đảm bảo cân đối NSNN. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực rất lớn của Tổng cục Hải quan trong bối cảnh nhiều mặt hàng có kim ngạch lớn, thuế suất cao phải thực hiện cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo cam kết của các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết với các nước và khu vực trên thế giới.
Cùng với đó, trong năm 2017 ngành Hải quan cũng đã đạt được những dấu ấn tích cực trong cải cách, hiện đại hóa, hoạt động quản lý, giám sát hải quan. Tiêu biểu là Tổng cục Hải quan xây dựng Hệ thống quản lý hàng gia công, sản xuất xuất khẩu theo phương thức quản lý mới; hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động tại cảng biển, cảng hàng không đảm bảo yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hóa từ khâu đầu đến khâu cuối. Nâng cấp, xây dựng các hệ thống công nghệ thông tin khác nhằm nâng cao mức tự động hóa trong các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan đảm bảo quản lý, vận hành Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) và các hệ thống công nghệ thông tin vệ tinh ổn định 24/7. Trong năm 2017, Hệ thống dịch vụ công trực tuyến đã được triển khai trên Cổng thông tin điện tử hải quan, nâng số lượng TTHC trong lĩnh vực hải quan được cung cấp DVCTT tối thiểu mức độ 3 lên 126/178 TTHC, tăng 46 TTHC so với năm 2016 và đạt 71% số lượng TTHC.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ hải quan góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, tăng tính minh bạch, giảm thời gian, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hải quan, hiện thực hóa các mục tiêu trong Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020.
Đạt được kết quả nêu trên, một nguyên nhân rất đáng ghi nhận đó là sự nỗ lực, quyết tâm của toàn ngành Hải quan trong việc tập trung phấn đấu để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong năm qua. Đặc biệt, những nỗ lực và kết quả đạt được của ngành Hải quan trong việc cải cách TTHC, hiện đại hóa các hoạt động hải quan đã làm giảm mạnh thời gian thông quan hàng hóa XNK, giúp làm giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, góp sức tích cực cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
* TBTCVN: Năm 2017, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành đẩy mạnh việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia. Thứ trưởng có thể chia sẻ đôi nét về công tác này năm qua và mục tiêu định hướng trong năm 2018?
– Thứ trưởng Vũ Thị Mai: Năm 2017 với vai trò cơ quan thường trực Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899), Bộ Tài chính đã đôn đốc các bộ, ngành ban hành kế hoạch động giai đoạn 2016 – 2020.
Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải quan phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành tích cực triển khai Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016 – 2020 và Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 17/11/2015 về nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Kết quả, tính đến 31/12/2017 đã kết nối chính thức với 11 bộ, ngành. Ngoài thủ tục thông quan hàng hóa (thuộc Bộ Tài chính); 47 TTHC của 10 bộ, ngành còn lại đã được triển khai với tổng số hồ sơ hành chính được xử lý hơn 790,7 nghìn bộ của gần 20 nghìn doanh nghiệp. Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia đường hàng không theo Quyết định số 43/2017/QĐ-TTg quy định trách nhiệm thực hiện thủ tục đối với tàu bay xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh thông qua Cơ chế một cửa quốc gia và có hiệu lực từ 15/11/2017; khai trương Cổng thông tin thương mại quốc gia nhằm đáp ứng một cam kết quan trọng trong Hiệp định tạo thuận lợi thương mại và là kênh cung ứng các thông tin hữu ích liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh hàng hóa.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, tuy nhiên so với thực tế yêu cầu của Chính phủ việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN còn chậm, do đó cần tăng tốc trong năm 2018.
Theo đó, trong năm 2018, Bộ Tài chính sẽ đẩy mạnh công tác tham mưu, đôn đốc các bộ, ngành thực hiện Kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại theo Quyết định 2185/QĐ-TTg ngày 14/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Xây dựng trình Bộ Tài chính trình Chính phủ Nghị định về thực hiện cơ chế một cửa Quốc gia, một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành để: Tạo thêm khung pháp lý thống nhất cho việc thực hiện cơ chế một cửa Quốc gia, một cửa ASEAN và trao đổi thông tin, chứng từ điện tử với các đối tác thương mại bên ngoài; đổi mới phương pháp kiểm tra chuyên ngành theo hướng áp dụng quản lý rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; chuẩn hóa và thu hẹp danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành trước thông quan hàng hóa…
Đồng thời, phối hợp, đôn đốc các bộ, ngành hoàn thành sửa đổi, bổ sung, thay thế 21/87 văn bản còn lại liên quan đến Đề án kiểm tra chuyên ngành theo Quyết định số 2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; triển khai có hiệu quả Đề án giám sát hải quan tự động tại các cảng biển, cảng hàng không và các đề án cải cách TTHC, hiện đại hóa hải quan khác theo đúng lộ trình và kế hoạch đề ra.
Về thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN, Bộ Tài chính phối hợp vào các bộ, ngành sẽ nhanh chóng kết nối, trao đổi e-C/O form D với các nước ASEAN; tham gia triển khai thí điểm trao đổi tờ khai hải quan ASEAN; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sẵn sàng kết nối và trao đổi chứng nhận kiểm dịch s-SPS với các nước ASEAN, trước mắt là với Indonesia…
Hải quan Nội Bài giám sát hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua hệ thống camera trực tuyến.
* TBTCVN: Thưa Thứ trưởng, trong 2 năm qua, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã rất nỗ lực phối hợp với các bộ, ngành thực hiện việc đơn giản thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Xin Thứ trưởng cho biết, đến nay kết quả đạt được ra sao và giải pháp thực hiện như thế nào trong năm 2018?
– Thứ trưởng Vũ Thị Mai: Thực hiện Quyết định 2026/QĐ-TTg và các Nghị quyết 19/NQ-CP (các năm 2015, 2016, 2017) về thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thời gian qua, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã rất nỗ lực chủ động, kiến nghị và phối hợp với các bộ, ngành triển khai các giải pháp, nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra chuyên ngành (KTCN) đối với hàng hóa XNK, giảm thời gian thông quan hàng hóa.
Theo đó, trong năm 2017 các bộ quản lý chuyên ngành (QLCN) cũng đã tích cực phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý và KTCN. Đến tháng 12/2017, số lượng văn bản được sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg đạt 86% (75/87 văn bản). Một số văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế mới đã được ban hành và đã đưa nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong việc quản lý và kiểm tra chuyên ngành vào thực hiện; một số văn bản qua rà soát không còn phù hợp đã được bãi bỏ.
Các bộ quản lý chuyên ngành cũng đã phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) trong việc xây dựng và ban hành Danh mục hàng hóa thuộc đối tượng KTCN kèm mã số HS. Một số bộ QLCN khi ban hành văn bản đã đưa quy định miễn, giảm, kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế đối với hàng hóa thuộc đối tượng KTCN và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu thông tin, chuyển thời điểm kiểm tra sang sau thông quan. Chẳng hạn như việc Bộ Khoa học và Công nghệ đã cắt giảm hơn 90% mặt hàng phải kiểm tra chất lượng trước khi thông quan. Hay như Bộ Công thương đã bãi bỏ việc kiểm tra chất lượng trước khi thông quan đối với 140 mặt hàng thép…
Cùng với đó, Bộ Tài chính đã chủ trì phối hợp với 10 bộ QLCN thành lập và đưa vào hoạt động 10 địa điểm KTCN tập trung tại 8 địa bàn quản lý hải quan là: TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội, Đà Nẵng, Lào Cai, Quảng Ninh, Quảng Ngãi. Đồng thời, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ nâng cấp Trung tâm phân tích phân loại hàng hóa XNK (thuộc Tổng cục Hải quan) thành Cục Kiểm định Hải quan với 7 chi cục kiểm định, 4 trạm kiểm định di động và các phòng thí nghiệm để hỗ trợ thực hiện hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK.
Ngoài ra, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp với một số đơn vị chức năng chuyên môn thuộc các bộ quản lý chuyên ngành tổ chức hội nghị tuyên truyền, họp báo chuyên đề, xử lý những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động KTCN…
Đó là những bước chuyển lớn và tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động XNK trong năm 2017. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu tại Quyết định 2026/QĐ-TTg và Nghị quyết 19-2017/NQ-CP, Nghị quyết 01-2018/NQ- CP của Chính phủ, trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ phải tập trung thực hiện những nhiệm vụ quan trọng sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành triển khai rà soát và ban hành Danh mục hàng hóa XNK thuộc đối tượng phải KTCN trước thông quan và Danh mục hàng hóa phải KTCN sau thông quan. Ban hành Danh mục hàng hóa XNK thuộc đối tượng phải KTCN trước thông quan theo hướng chỉ kiểm tra trước thông quan đối với những mặt hàng có nguy cơ cao về an toàn thực phẩm, dịch bệnh, an ninh quốc gia; hàng hóa thuộc danh mục này phải có đầy đủ tên hàng kèm mã số HS, có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể để kiểm tra.
Thứ hai, tiếp tục cải tiến hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK theo hướng áp dụng phương pháp quản lý rủi ro, thực hiện nguyên tắc quản lý trên cơ sở đánh giá theo mức độ rủi ro của hàng hóa XNK và mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp để quyết định phương thức và cách thức kiểm tra phù hợp; áp dụng chế độ doanh nghiệp ưu tiên trong KTCN; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; đẩy mạnh kiểm tra tại nguồn; áp dụng thông lệ quốc tế, chủ động thực hiện công nhận chất lượng đối với những mặt hàng có nhãn hiệu nổi tiếng, nhà sản xuất nổi tiếng, có xuất xứ từ nước có yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, công nhận lẫn nhau theo thỏa thuận.
Thứ ba là tiếp tục điện tử hóa thủ tục (nộp hồ sơ, trả kết quả…) KTCN; kết nối chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cơ quan, tổ chức quản lý, kiểm tra chuyên ngành với Cổng thông tin một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.
Thứ tư là rà soát, loại bỏ những mặt hàng chịu nhiều hình thức KTCN, những quy định chồng chéo, không cần thiết trong KTCN đối với hàng hóa XNK.
Thứ năm là rà soát, chuẩn hóa các danh mục hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra và quản lý chuyên ngành phù hợp theo danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ban hành kèm theo Thông tư số 65/2017/TT-BTC ngày 27/6/2017 của Bộ Tài chính.
Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cần đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông tới các tổ chức, cá nhân có hoạt động XNK hàng hóa để nắm vững các quy định của pháp luật, tuân thủ và chấp hành các quy định pháp luật nói chung và pháp luật về KTCN nói riêng; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KTCN đối với hàng hóa XNK; trình Chính phủ sớm ban hành Nghị định quy định về thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và KTCN đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động KTCN đối với hàng hóa XNK theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa (trừ lĩnh vực, mặt hàng nhà nước bắt buộc phải kiểm tra)…
* TBTCVN: Thưa Thứ trưởng, ngành Hải quan được coi là một trong những ngành ở “đầu sóng, ngọn gió” trong giao thương hàng hóa giữa Việt Nam và quốc tế, xin Thứ trưởng cho biết những chỉ đạo trọng tâm của Bộ Tài chính đối với ngành Hải quan trong năm 2018?
– Thứ trưởng Vũ Thị Mai: Năm 2018 là năm bản lề thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quyết định của Trung ương Đảng khóa 12, Nghị quyết của Chính phủ và Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện nhiệm vụ tài chính giai đoạn 2016 – 2020, Tổng cục Hải quan cần bán sát những nhiệm vụ giải pháp của Nghị quyết 01/2018 của Chính phủ và chương trình hành động của Bộ Tài chính, quyết liệt và tập trung thực hiện các giải pháp ngay từ đầu năm.
Theo đó, cùng với việc tập trung triển khai các giải pháp, phối hợp với các bộ quản lý chuyên ngành để nâng cao hiệu quả công tác KTCN đối với hàng hóa XNK, nhằm giảm thời gian thông quan hàng hóa, Tổng cục Hải quan cần phải tiếp tục triển khai một số nhiệm vụ công tác trọng tâm như sau:
Một là, theo dõi sát tình hình thu nộp NSNN; kịp thời tháo gỡ vướng mắc về chính sách thuế có ảnh hưởng đến số thu; tăng cường công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, chống thất thu; đẩy mạnh công tác quản lý thu nợ thuế, kiểm tra sau thông quan, phấn đấu hoàn thành vượt dự toán thu được giao (283 nghìn tỷ đồng) từ 35%.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hải quan; đơn giản hóa thủ tục, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, triển khai thành công và hiệu quả Hệ thống quản lý hải quan tự động tại cảng biển, hàng không; tích cực triển khai cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và kiểm tra chuyên ngành, phát triển quan hệ đối tác hải quan – doanh nghiệp…
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước về hải quan, trong đó tập trung rà soát những vướng mắc, bất cập của các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy chế để lập kế hoạch sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm đơn giản hóa quy trình, thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân và cộng đồng DN.
Ba là, tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chống gian lận về xuất xứ, trị giá, gian lận về mã, số lượng, trọng lượng, chủng loại hàng hóa,…; kiểm soát chặt chẽ, kịp thời ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới tập trung vào các tuyến, địa bàn trọng điểm; tăng cường tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về mối nguy hại và các hệ lụy từ hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại và hàng giả để mọi công dân không tham gia, không tiếp tay, không bao che, không làm ngơ với hoạt động này.
Bốn là, thực hiện nghiêm các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính về tăng cường kỷ luật, kỷ cương khi thi hành công vụ; thực hiện luân phiên, luân chuyển cán bộ, chú trọng hơn nữa đến việc rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức cho cán bộ công chức; phát hiện, xử lý nghiêm những sai phạm của cán bộ công chức để xây dựng lực lượng hải quan ngày càng chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
* TBTCVN: Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!
Huy Sáu – Trịnh Hải (thực hiện)
