Không ‘nợ’ chính sách về đồng bào dân tộc trong chi thường xuyên


(TBTCO) – Mặc dù đã có rất nhiều chính sách ưu tiên, hỗ trợ cho đồng bào dân tộc, miền núi, nhưng hiệu quả thực hiện chưa cao, một phần do chính sách còn chồng chéo, thiếu kết nối khi thực hiện, đồng thời cũng do điều kiện tự nhiên, xã hội của khu vực này rất khó khăn.


Năm 2018: Chi thường xuyên 96.000 tỷ đồng cho chính sách dân tộc
Ngày 13/8, tại phiên chất vấn Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến, một số đại biểu đã nêu câu hỏi liên quan đến việc vì sao đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nguồn lực ngân sách đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhưng hiệu quả đạt được chưa cao? Việc cân đối nguồn lực cho các chính sách ra sao, tình trạng “nợ” chính sách thế nào?
Tham gia trả lời nội dung này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả của việc triển khai chính sách chưa cao là do thực tế chúng ta có nhiều chính sách nên khó lồng ghép khi thực hiện, dễ xảy ra lãng phí nguồn lực. Trong khi đó, phối hợp giữa các bộ, ngành chưa tốt, dẫn đến lúng túng khi hướng dẫn, thực hiện chính sách. 
Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu rõ, hiện nay có 4 nhóm chính sách hỗ trợ cho đồng bào DTTS, bao gồm nhóm hỗ trợ trực tiếp, hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ về y tế, giáo dục, hỗ trợ về điều kiện sinh hoạt… trên phạm vi cả nước. Ngoài ra để hỗ trợ giảm nghèo đa chiều, Chính phủ đã có Nghị quyết 71 năm 2018, trong đó có các chính sách về hỗ trợ đồng bào DTTS về y tế, giáo dục…
Trong giai đoạn 2016 – 2020, ngân sách chi thường xuyên, chi sự nghiệp theo các chương trình hỗ trợ đồng bào DTTS đáp ứng được yêu cầu. Cụ thể, riêng trong hai năm 2017 – 2018, ngân sách bố trí khoảng 187.000 tỷ đồng để hỗ trợ đồng bào DTTS. Năm 2017, dự toán chi thường xuyên cũng được bố trí ưu tiên cho đồng bào DTTS. 
Đơn cử như định mức chi cho giáo dục tính theo dân số trong độ tuổi từ 1 đến 18 tuổi, vùng đô thị được phân bổ 2.148.000 đồng/người/năm, vùng đồng bằng là 2.527.000 đồng/người/năm, vùng núi, đồng bào dân tộc là 3.538.000 đồng/người/năm, vùng cao, hải đảo là 5.034.000 đồng/người/năm… Qua đó, có thể thấy, ngay trong phân bổ chi phí thường xuyên đã có sự ưu tiên đáng kể, tổng chi thường xuyên phân bổ theo dân số liên quan đến đồng bào DTTS của năm 2017 khoảng 84.000 tỷ đồng, chiếm hơn 17% tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương năm 2017.
Bên cạnh đó, kinh phí thực hiện một số chính sách khác cho đồng bào DTTS cũng khoảng 5.000 tỷ đồng. Với năm 2018, tổng chi cho chính sách đồng bào DTTS ước khoảng 96.000 tỷ đồng. Qua đó, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định kinh phí thường xuyên cho đồng bào DTTS đã được ưu tiên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu. 
Liên quan đến Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017 – 2020, Quyết định số 2086/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016 – 2025, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, được sự ủy quyền của Chính phủ, Bộ Tài chính đã báo cáo UBTVQH, về việc bố trí kinh phí khoảng 280 tỷ đồng. Hai chính sách này chủ yếu là vốn đầu tư phát triển. Khi rà soát lại kinh phí dự phòng của ngân sách trung ương cần ưu tiên cho mục tiêu này trong điều kiện cho phép. Còn lại, một số chính sách nhỏ hơn đã được bố trí đầy đủ, về cơ bản không có tình trạng nợ chính sách trong phân bổ chi thường xuyên. 
Điều kiện tự nhiên khó khăn, đầu tư khó hiệu quả
Cùng trả lời tại phiên chất vấn về chi đầu tư cho đồng bào DTTS, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, đã có rất nhiều chính sách, nguồn lực ưu tiên cho đồng bào DTTS. Giai đoạn 2011 – 2015 có 184 chính sách, đến giai đoạn 2016 – 2020, có 116 chính sách được ban hành. Đối với 3 Tây (Tây Bắc, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên), giai đoạn 2016 – 2020 đã bố trí đầu tư gần 200.000 tỷ đồng, vốn ODA là hơn 38.000 tỷ đồng, tăng 2,47 lần so với giai đoạn 2011 – 2015. Đây là những nỗ lực trong bối cảnh ngân sách còn rất khó khăn, nhiều nhiệm vụ. 

 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng trả lời chất vấn. Ảnh: H.Y

Tuy nhiên, lý giải vì sao đầu tư nhiều như vậy, dù có kết quả tích cực nhưng vẫn còn những tồn tại mà các đại biểu nêu, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng, do điều kiện tự nhiên khó khăn, điều kiện dân trí chưa cao, nên người dân tìm kế sinh nhai khó, dẫn đến khó xóa đói giảm nghèo.
Mặc dù điều kiện giáo dục, y tế, an sinh xã hội tốt hơn, nhưng để có việc làm, tăng thu nhập là điều không đơn giản. Đồng bào chủ yếu ở các vùng có điều kiện tự nhiên rất khó khăn, đất sản xuất thiếu, cơ sở hạ tầng giao thông thiếu và yếu. Hơn nữa, do người dân ở không tập trung nên khi đầu tư hiệu quả không cao. 
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu ví dụ, chi phí đầu tư một dự án nước sạch cấp huyện khoảng 40 – 50 tỷ đồng nhưng chỉ phục vụ số dân rất ít, tương tự là chi phí kéo điện đến thôn, bản, dù tốn kém nhưng chỉ phục vụ được rất ít người dân do họ sống phân tán. Hơn nữa, do đời sống chưa cao, người dân cũng dễ chịu tác động mạnh bởi thiên tai, dịch bệnh…, rất dễ trở lại tình trạng nghèo đói. 
Để giải quyết căn cơ tình trạng này, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các chính sách phải được thiết kế cho phù hợp với thực tế từng địa phương, từng dân tộc mới đi vào cuộc sống.
“Nếu cứ rải mành mành và không đi vào thực chất thì những tồn tại này sẽ còn kéo dài mãi. Điều đầu tiên phải quan tâm là giáo dục, y tế… Việc khuyến khích, hỗ trợ để có việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống thì không đòi hỏi quá mức ở vùng đồng bào dân tộc. Nếu tập trung tăng thu nhập, tạo việc làm thì sẽ là áp lực lớn”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nói. 
Ngoài ra, về vấn đề thu hút nguồn lực xã hội để đầu tư, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng các vùng DTTS, miền núi hầu hết ở vùng khó khăn, ít tài nguyên, hạ tầng kém, nhân lực kém… nên rất khó thu hút đầu tư, dù Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư.
“Quan trọng nhất là phải quy hoạch lại sử dụng đất, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc. Đồng thời nâng cao cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực”, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh./.


Hoàng Yến