Dồn tâm sức để chính sách tài chính trở thành động lực phát triển





(TBTCVN) – Với những người làm công tác pháp chế của ngành Tài chính, trước mỗi nhiệm vụ được giao đều phải cẩn trọng, tỉ mỉ đến từng chi tiết, từng điều khoản, song quan trọng hơn cả là phải dồn nhiều tâm sức tính toán tác động của chính sách đến cuộc sống.




Văn bản quy phạm pháp luật của ngành Tài chính chiếm 1/3 số lượng văn bản trong khối các cơ quan trung ương.





Có như vậy, chính sách khi được ban hành mới nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội, được người dân đón nhận.
Hệ thống chính sách tài chính đồng bộ, hiệu quả
Thời gian qua, cơ chế chính sách tài chính đã được xây dựng đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, đưa chính sách tài chính trở thành một công cụ quan trọng trong điều hành và quản lý kinh tế. Theo đó, nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực ngân sách, thuế, hải quan, dự trữ quốc gia, giá, tài sản công, tài chính đất đai, bảo hiểm, chứng khoán… được rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới.
Trong đó, ngành Tài chính luôn đặt mục tiêu xây dựng một hệ thống thuế, phí, lệ phí đồng bộ, có cơ cấu bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế và có khả năng huy động đầy đủ, chủ động, hợp lý nguồn thu cho NSNN; mở rộng cơ sở thuế, duy trì mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; tạo động lực khuyến khích sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Song song với đó, ngành Tài chính đã liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với thị trường tài chính, bảo hiểm để góp phần huy động có hiệu quả nguồn vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các thị trường tài chính theo chiều sâu trên cơ sở đa dạng hóa các định chế tài chính, các hàng hóa trên thị trường tài chính…
Bộ Tài chính quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của ngành Tài chính chiếm 1/3 số lượng văn bản trong khối các cơ quan trung ương. Tùy theo từng thời điểm và yêu cầu cuộc sống đặt ra, đòi hỏi phải xây dựng mới hay sửa đổi, bổ sung chính sách, nhưng khối lượng văn bản hằng năm Bộ Tài chính soạn thảo là rất lớn. Đơn cử trong giai đoạn 2011 – 2015, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ trình Quốc hội 16 dự án luật; 4 nghị quyết của Quốc hội, 3 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 99 nghị định, 109 quyết định và ban hành theo thẩm quyền 1.099 thông tư, thông tư liên tịch.
Chỉ tính riêng trong năm 2017, Bộ Tài chính được giao xây dựng 66 đề án (2 luật; 40 nghị định; 11 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 13 đề án khác). Trong năm, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 85 đề án (trong đó: 63 nghị định, 11 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 11 đề án khác); ban hành theo thẩm quyền 131 thông tư tập trung vào các cơ chế, chính sách, các giải pháp tài chính nhằm tăng cường quản lý thu, chi NSNN chặt chẽ, hiệu quả, tăng cường quản lý sử dụng tài sản công…
Điểm nhấn trong công tác xây dựng thể chế năm 2017 là Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Chính phủ, trình Quốc hội 2 dự án luật, gồm: Luật Quản lý tài sản công và Luật Quản lý nợ công (sửa đổi). Đây là 2 dự án luật quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý kín kẽ cho việc quản lý nợ công và tài sản công. 2 Luật đi vào cuộc sống sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm soát nợ công, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, cũng như sử dụng hiệu quả nguồn lực, công khai, minh bạch và phòng ngừa tham nhũng, lãng phí trong sử dụng tài sản công.
Lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm
Những năm gần đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng luôn ưu tiên hàng đầu cho công tác xây dựng thể chế pháp luật tài chính, đặc biệt các chính sách lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ kiến tạo và phát triển.
Năm 2018, khối lượng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật Bộ Tài chính khá nặng nề;  dự kiến trình Chính phủ trình Quốc hội xem xét bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 đối với 4 dự án luật, gồm: Luật Chứng khoán (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 6 luật thuế (GTGT, TTĐB, TNDN, TNCN, thuế tài nguyên và Luật thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu); Luật Thuế tài sản; Luật Quản lý thuế (sửa đổi).
Trong các năm tiếp theo, ngành Tài chính sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế về tài chính phù hợp với quá trình hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thu hút nguồn lực trong xã hội cho đầu tư phát triển, chú trọng đến quá trình cơ cấu lại nền kinh tế…
Khó có thể nói hết những nỗi vất vả của các cơ quan chuyên môn cũng như những người làm công tác pháp chế, trong quá trình xây dựng thể chế pháp luật tài chính. Các đề án công tác lớn được phê duyệt là thành tích chung của toàn ngành Tài chính. Nhưng trước đó, mỗi nhiệm vụ được Bộ Tài chính giao đều được rà soát cẩn trọng tỉ mỉ đến từng chi tiết, từng điều khoản. Điều này chiếm nhiều tâm sức tính toán tác động của chính sách đến cuộc sống của người làm công tác pháp chế. Có như vậy, chính sách khi được ban hành mới nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Có thể nói, đến thời điểm hiện nay, ngành Tài chính đã hoàn thiện hệ thống khung khổ pháp lý đồng bộ về cơ chế quản lý tài chính – ngân sách nhà nước, góp phần quan trọng làm cho thế và lực của nước ta ngày càng lớn mạnh. Chúng ta đã chủ động và đạt được nhiều bước tiến trong hội nhập quốc tế về tài chính, tham gia tích cực, có hiệu quả trong các quan hệ tài chính song phương, đa phương góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Cơ chế chính sách tài chính đã được điều chỉnh linh hoạt, đồng bộ và nhất quán, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, thời gian tới, đứng trước yêu cầu mới, ngành Tài chính đòi hỏi phải phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn, trong đó việc xây dựng thể chế chính sách tài chính vẫn có vai trò then chốt, mang ý nghĩa “mở đường” cho sự phát triển./.




Trần Thắng