(TBTCO) – Sáng 12/12, tại hội thảo “Khả năng áp dụng và tác động của thuế tài sản ở Việt Nam”, nhiều ý kiến của các học giả đều đồng tình với việc cần thiết phải có chính sách thuế đối với tài sản. Tuy nhiên, cần phải làm rõ tên thuế, mức thuế suất và nên để lại nguồn thu cho địa phương.
Thuế tài sản để triệt tiêu địa tô có từ thế kỷ XIX
Theo chuyên gia kinh tế TS. Đinh Tuấn Minh, một hệ thống thuế tài sản phải xác định rõ đối tượng nộp thuế, tùy quốc gia gia khác nhau có thể đánh trên người sở hữu hoặc người sử dụng tài sản. Bên cạnh đó, cần quy định rõ đối tượng đánh thuế vào loại tài sản nào, động sản hay bất động sản; cơ sở đánh thuế và mức thuế cụ thể ra sao…
Nghiên cứu của TS. Đinh Tuấn Minh đưa ra hai dòng triết lý ủng hộ việc đánh thuế tài sản và ngược lại.
Với quan điểm ủng hộ việc đánh thuế tài sản, theo TS. Đinh Tuấn Minh, trên thực tế đã có từ thế kỷ XIX khi coi sử dụng thuế tài sản để triệt tiêu lợi tô của đất và sử dụng thuế tài sản như công cụ để tái phân phối thu nhập. Đồng thời, sử dụng thuế tài sản để gia tăng tính minh bạch và trách nhiệm của chính quyền địa phương, cũng như góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.
“Ở nhiều nước hướng thuế tài sản như một cấu thành của thuế địa phương, để dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng, mang lại phúc lợi cho người dân. Đây cũng là cách để một mặt hướng người dân quan tâm đến chi tiêu của địa phương mình cũng như có nghĩa vụ đóng góp với ngân sách của địa phương”, TS. Đinh Tuấn Minh nói.
Theo ông Đinh Tuấn Minh, thông điệp đưa ra khi xây dựng hệ thống thuế là hết sức quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào phải xem xét, cân nhắc trước khi triển khai một chính sách thuế cụ thể.
Nghiên cứu dưới góc độ kinh nghiệm quốc tế về Luật Thuế tài sản và thực tiễn ở Việt Nam, TS. Vũ Sỹ Cường – Học viện Tài chính đã có những kết quả khá cụ thể, chi tiết về vấn đề này.
Nhìn một cách tổng quát, theo TS. Vũ Sỹ Cường, một sắc thuế phải đạt được các mục tiêu công bằng, hiệu quả và dễ thực thi. Về tên gọi, TS. Vũ Sỹ Cường cho rằng phải rõ hơn, có thể là luật liên quan đến tài sản, hoặc luật quy định riêng biệt về bất động sản, về động sản hay của cải ròng… Tuy nhiên, theo ông, rất ít quốc gia đánh thuế trên động sản và của cải ròng (chỉ 3 nước áp dụng). Do nhiều khó khăn nên các nước cuối cùng quy về một loại thuế đó là thuế địa phương.
Ở nhiều nước, thuế tài sản, đặc biệt là thuế bất động sản thường là nguồn thu ngân sách quan trọng ở cấp địa phương, ví dụ như thuế bất động sản chiếm đến 80% thu ngân sách địa phương tại Thái Lan; 36% tại Chi Lê; 40% tại Ba Lan… Xét trên tổng chi ngân sách của địa phương, vai trò của thuế bất động sản cũng rất khác biệt, chiếm 50% nguồn chi tiêu địa phương tại Úc, chiếm 1/4 ở Pháp và Tây Ban Nha. Cùng với đó, việc phân bổ thu từ thuế bất động sản theo các cấp cũng không giống nhau giữa các nước; phần lớn phân bổ cho địa phương, nhưng cũng có những nước thuộc hoàn toàn của trung ương.
Nhắc đến thuế đánh vào tài sản, TS. Vũ Sỹ Cường cho biết, đây không phải loại thuế xa lạ với Việt Nam. Trên thực tế, ở nước ta đã có thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, chính là thuế đối với loại tài sản là đất. Tuy nhiên, nguồn thu từ thuế này khá thấp, chỉ đóng góp 0,03- 0,06% GDP mỗi năm, thua xa các nước. Vai trò với ngân sách địa phương cũng khá khiêm tốn, chỉ chiếm 5-7% thu của ngân sách địa phương, thậm chí nhiều nơi chỉ chiếm khoảng 2%.
Nhận định về chính sách thuế này, TS. Vũ Sỹ Cường cho rằng: “việc áp dụng là không dễ dàng gì, mặc dù Việt Nam chưa có luật nhưng đã thực hiện rồi”. Theo ông Cường, việc xác định tên thuế là cực kỳ quan trọng vì nhiều nước không đánh thuế đối với động sản (cổ phiếu, trái phiếu, tàu thuyền, ô tô…) vì có thể bị đánh trùng thuế vì đã thu một số loại thuế như tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng… Do đó, cần thiết phải gọi rõ tên của loại tài sản được điều chỉnh bởi luật thuế này.
Để lại nguồn thu cho địa phương
Theo TS. Nguyễn Đức Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, việc có một chính sách thuế liên quan đến tài sản là cần thiết, tuy nhiên cần phải xác định rõ mục đích của chính sách thuế đó là gì, mức thuế ra sao và để cho ai sử dụng.
“Nếu thuế để lại cho địa phương thì có động cơ cho địa phương thực hiện để tăng cơ sở hạ tầng phục vụ trở lại cho người dân. Thuế tài sản là loại thuế quốc gia, tỷ lệ thu của nó không nhiều nhưng cần để lại cho địa phương. Thuế làm giảm thu nhập của hộ gia đình nhưng không ảnh hưởng đến hộ nghèo nhất, mang tính lũy tiến cao nên chỉ ảnh hưởng đến người giàu. Như vậy mục tiêu là giảm bất bình đẳng cho xã hội. Trong khi đó, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng lợi từ hạ tầng cơ sở tốt lên, được đầu tư cho giáo dục và y tế…”, TS. Nguyễn Đức Thành phân tích thêm.
Điều quan trọng, theo TS. Nguyễn Đức Thành, đó là tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của ngân sách các cấp, để đảm bảo muốn cải thiện thu (được sự đồng thuận của người dân) phải nâng tính giải trình trong các khoản chi của ngân sách.
Phát biểu tại hội thảo, ông Hoàng Văn Cường – Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Tài chínhNgân sách của Quốc hội cho biết, việc ban hành Luật Thuế tài sản là cần thiết, tuy nhiên trong quá trình xây dựng luật, rất cần sự đóng góp của các nhà khoa học.
“Ý kiến của các nhà khoa học, học giả đều được Lãnh đạo Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng và lắng nghe. Chúng ta phải trên cơ sở khoa học thì các chính sách đưa ra mới ổn định. Các chính sách đưa ra phải được xã hội đồng thuận. Việc công bố nghiên cứu sẽ đóng vai trò lớn trong việc tạo ra nhận thức và đồng thuận với luật thuế này”, ông Hoàng Văn Cường nói.
Theo ông Hoàng Văn Cường, cần làm rõ hơn cơ sở đề xuất thuế là gì, ví dụ như thuế đối với nhà đất. Quá trình xây dựng luật, dựa trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, nhưng cũng cần căn cứ vào thực tiễn của Việt Nam. Bởi theo ông Cường, Việt Nam không thể bỏ qua yếu tố công bằng. Cần phải có thuế điều tiết khi có những nhóm người sở hữu quá nhiều tài sản là nhà, đất, đây chính là nguồn lực của xã hội, nhưng lại mang lại nguồn lợi cao cho một số cá nhân. Ông mong rằng, các tổ chức quốc tế tiếp tục hỗ trơ để nhóm nghiên cứu thực hiện sâu hơn, cụ thể hơn./.
Minh Anh
