Bảo lãnh thông quan: Kỳ vọng tháo gỡ nhiều rào cản thương mại


(TBTCVN) – Các quy định thương mại lỗi thời kết hợp với các thủ tục hành chính (TTHC) rườm rà, không minh bạch đã tạo ra một gánh nặng tương đương với “mức thuế quan vô hình” lên tới 164,25%.


Việc áp dụng hệ thống bảo lãnh thông quan hiện đại tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ giải quyết rào cản nói trên, vừa bảo vệ nguồn thu ngân sách, vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật. Đây là ý kiến của chuyên gia được nêu tại hội nghị “Bước kế tiếp trong tạo thuận lợi thương mại tại Việt Nam”, do Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) của Hội đồng Tư vấn cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Hải quan và Liên minh Tạo thuận lợi thương mại toàn cầu (GATF) tổ chức mới đây.
Giảm 1 ngày thủ tục sẽ tăng 2,13 tỷ USD xuất khẩu 
Tại hội nghị, GATF đã công bố dự án trợ giúp Việt Nam hiện đại hóa và cải cách thủ tục thương mại liên quan đến xuất nhập khẩu (XNK), nhằm thực thi Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại của WTO (WTO TFA). Dự án bao gồm việc điều chỉnh, sửa đổi các quy định pháp lý và quản lý, hỗ trợ vận hành và công nghệ thông tin cho hệ thống hải quan điện tử VNACCS/VCIS và các trợ giúp khác trong việc nghiên cứu, triển khai một hệ thống bảo lãnh thông quan hiện đại.
Theo ông Eric Miller, cố vấn cao cấp của GATF, một nhân tố chính của tạo thuận lợi thương mại ở Việt Nam chính là hệ thống bảo lãnh thông quan. Hệ thống sẽ tạo thuận lợi thương mại bằng cách cho phép giải phóng nhanh hàng hoá nhập khẩu (NK) trong khi vẫn duy trì và tăng cường kiểm soát tuân thủ. Việt Nam sẽ là quốc gia đầu tiên ngoài Hoa Kỳ triển khai một hệ thống toàn diện như vậy.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) tại 126 nước cho thấy, các quy định thương mại lỗi thời kết hợp với các TTHC rườm rà, không minh bạch đã tạo ra một gánh nặng cho tăng trưởng kinh tế tương đương với “mức thuế quan vô hình” lên tới 164,25%. Các ước tính về chi phí thương mại tương đương theo giá trị hàng ở các nước đang phát triển là 219% và là 134% ở các nước có thu nhập cao. Chi phí thương mại là rất lớn và phần lớn xuất phát từ các chính sách, mà cụ thể là các TTHC.
Đây chính là rào cản lớn nhất cho sự gia nhập của các doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ (VVN) của Việt Nam vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu. Theo các thống kê chính thức, trên 97% DN Việt Nam là DNVVN.
Nghiên cứu của WB với 126 quốc gia vào dữ liệu thương mại năm 2016 của Việt Nam cũng cho thấy, việc giảm 1 ngày trong thời gian xử lý thương mại và thông quan xuất khẩu (XK) sẽ dẫn đến mức tăng tối thiểu 1% trong tổng kim ngạch XK hàng năm, tương đương 2,13 tỷ USD. Đối với một số mặt hàng quan trọng trong nông nghiệp và các hàng hoá nhạy cảm với thời gian, mức tăng có thể lên đến 6%. Giảm 5 ngày sẽ mang lại kim ngạch XK khoảng 10,65 tỷ USD.
Bảo lãnh thông quan thúc đẩy thương mại XNK
Trong bối cảnh đó, việc áp dụng hệ thống bảo lãnh thông quan hiện đại tại Việt Nam được kỳ vọng là cơ sở để giải quyết các vấn đề rào cản nói trên, vừa bảo vệ nguồn thu ngân sách, vừa bảo đảm việc thực thi các quy định của pháp luật. Ông Nestor Scherbey, cố vấn cấp cao của GAFT nhận định như vậy.
Bảo lãnh thông quan hoạt động theo cách thức tương tự như hợp đồng bảo hiểm thanh toán cho cơ quan hải quan nếu một nghĩa vụ nào đó không được thực hiện. Tuy nhiên, không giống như một hợp đồng bảo hiểm, bảo lãnh thông quan có 3 bên tham gia, thay vì 2 bên.  Các bên gồm hải quan, bên được bảo lãnh là DN và bên bảo lãnh là công ty bảo hiểm.
Bản chất của mô hình này là tách biệt việc thông quan, giải phóng hàng hoá tại cửa khẩu và thực hiện các yêu cầu về hồ sơ, giấy tờ, điều kiện thành hai luồng quy trình, hoạt động riêng thông qua việc thực hiện bảo lãnh thông quan. Nói một cách khác, về bản chất giống như mua phí bảo hiểm để bảo đảm nhà NK hoặc XK sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế khi NK, XK vào Việt Nam. Những vấn đề này được thực hiện trước khi hàng đến và giúp hàng hoá khi về sẽ được thông quan nhanh hơn.
Tuy nhiên, bảo lãnh thông quan làm nhiều chức năng hơn là chỉ đảm bảo thanh toán các khoản thuế, phí. Bảo lãnh thông quan hoạt động để đảm bảo một cơ chế xử phạt chặt chẽ hơn mà qua đó nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu tuân thủ thương mại cho hàng NK được bảo đảm. “Ở Việt Nam, việc triển khai một hệ thống bảo lãnh thông quan hiện đại sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề quản lý nhà nước về hàng hoá, “kiểm tra chuyên ngành” (KTCN) tham gia trong việc giải phóng hàng hoá”, ông Nestor Scherbey nhấn mạnh.
Tại hội thảo, đại diện Tổng cục Hải quan đã trình bày Kế hoạch hành động để thúc đẩy Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và Cơ chế một cửa ASEAN (ASW), cũng như các mục tiêu, giải pháp giảm thời gian, thủ tục KTCN nhằm thực thi WTO TFA. Theo đó, mục tiêu của NSW và ASW là đến năm 2020 hoàn thành triển khai các TTHC liên quan đến hàng hóa XNK, quá cảnh; người và phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh với tổng số 252 thủ tục các bộ, ngành vừa rà soát. Đồng thời, triển khai đầy đủ ASW, sẵn sàng kết nối với các đối tác thương mại khác ngoài ASEAN.

Đối với KTCN, mục tiêu đặt ra là đến năm 2020, chỉ kiểm tra tại cửa khẩu đối với các mặt hàng tác động đến an toàn xã hội, an ninh quốc gia, phải kiểm dịch hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Trong năm 2018, phấn đấu giảm tỷ lệ các lô hàng phải KTCN xuống dưới 15%, rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục KTCN.


H.Y