BizLIVE – Hai nước, chuyển từ cựu thù thành quan hệ bình thường hoá và đối tác với nhau, rõ ràng đó là câu chuyện rất dài của lịch sử, theo nhìn nhận của đại sứ Phạm Quang Vinh.
Năm 2020 là một năm lịch sử của quan hệ Việt – Mỹ. Tính từ khi bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ vào năm 1995, đến nay đã tròn 25 năm. Nhân dịp này, BizLIVE đã có cuộc phỏng vấn với nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ – ông Phạm Quang Vinh về bối cảnh bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, những nhân vật lịch sử đóng góp cho quan hệ Việt – Mỹ.
Vào thời điểm 25 năm trước, bối cảnh dẫn đến việc bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ có những điểm gì đáng chú ý, thưa ông?
Nếu chúng ta nhìn vào quan hệ Việt – Mỹ, chúng ta cần phải nhớ lại một quá trình chiều dài lịch sử của một cuộc chiến tranh khốc liệt. 25 năm trước, Việt Nam và Mỹ từng là nước cựu thù, chấm dứt chiến tranh từ năm 1975, trải qua 20 năm cấm vận và thù địch và nếu chúng ta nhớ lại là cấm vận đã được thiết lập từ những thời kỳ sau chiến tranh, kéo dài cho đến năm 1994.
Từ cấm vận rồi trước đó là cuộc chiến tranh khốc liệt, rõ ràng là 2 phía đối địch và 2 phía cựu thù, khi mà đi vào quan hệ với nhau ta phải thấy rõ rằng: Không quên, mà nhìn nhận rõ cái quá khứ và bài học của quá khứ, để khép lại quá khứ và hướng tới tương lai quan hệ. Đây là nhận thức và quyết sách rất lớn nhưng cũng rất khó khăn. Trong nhiều cuộc trao đổi hậu chiến, phía Mỹ cũng từng nhìn nhận rằng đó là một cuộc chiến tranh sai lầm.
Nhưng khép lại quá khứ, để hướng tới tương lai, cũng đồng thời có nghĩa rằng hai bên cùng nhau giải quyết những vấn đề hậu quả chiến tranh để lại. Và trên thực tế rằng từ sau chiến tranh xảy ra, có rất nhiều cuộc tiếp xúc giữa hai bên bao gồm cả tiếp xúc giữa người dân với người dân, rồi cả những cựu binh với nhau và quan chức hai phía.
Vượt qua nỗi đau chiến tranh, cùng hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh, chính là việc đầu tiên tăng cường hiểu biết và xây dựng lòng tin, để hai nước đi vào bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau cách đây 25 năm.
Hai nước, chuyển từ cựu thù thành quan hệ bình thường hoá và đối tác với nhau, rõ ràng đó là câu chuyện rất dài của lịch sử. Cái lớn và khó nhất chính là vượt qua được cái thù địch, cái hậu quả của chiến tranh, để rồi bình thường hóa, hướng tới tương lai và xây dựng quan hệ giữa hai bên.
Theo ông, những nhân vật nào theo ông có ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ?
Cần nhìn tổng thể, đó là kết quả của quá trình dài, nhiều thế hệ cả chính giới và nhân dân hai nước. Trong chặng đường đó, đã có rất nhiều trở ngại đã phải vượt qua, của một lịch sử hơn hai thập kỷ chiến tranh khốc liệt và lại thêm hai thập kỷ cấm vận, thù địch – Nhưng chính trong giai đoạn 1975-1995, hai bên đã có nhiều tiếp xúc và bước đi quan trọng, thì mới có thể đi đến thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau.
Đầu tiên, những người tiên phong trong các bước đi hàn gắn, có lẽ phải kể đến các cựu binh của hai phía, rồi những người dân, các tổ chức nhân đạo, họ đã tiếp xúc để làm cầu nối, hàn gắn vết thương chiến tranh mà do phía Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Rồi quyết sách ở cấp chính thức nhà nước, chính phủ.
Ông John Kerry và ông John McCain đến thăm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1993. Ảnh: Reuters
Còn nhớ, vào 11/7/1995, khi Tổng thống Clinton công bố quyết định bình thường hoá quan hệ với VN, thì đứng bên cạnh có rất nhiều các nghị sĩ Mỹ, đa phần vốn là các cựu binh chiến tranh Việt Nam, nổi bật John McCain, John Kerry, Pete Peterson.
Không chỉ vào 1995, mà cả quá trình sau này người ta vẫn luôn nhắc đến hai Thượng nghị sỹ John McCain và John Kerry như những biểu tượng ủng hộ quan hệ từ hai đảng Cộng hòa và Dân Chủ, còn Hạ nghị sỹ Pete Peterson trở thành Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Hà Nội.
Thế nhưng, cũng cần nói thêm về những người bình thường và rất thầm lặng, đó là những người dân, người cựu binh ở hai phía. Nhiều người Mỹ thực sự đã đến Việt Nam, với mong muốn hàn gắn vết thương chiến tranh từ rất sớm, ngay cả trước khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao — Nếu không có những người đó, nước Mỹ khó vượt qua được hội chứng chiến tranh, quốc hội Mỹ và chính phủ Mỹ cũng khó lòng đi đến được việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Và về phía Việt Nam cũng vậy, ngoài các bước đi của chính phủ, đã có những người dân sẵn sàng khép lại nỗi đau, mở lòng mình ra để đón tiếp người Mỹ với tư cách hàn gắn quan hệ, hướng đến tương lai.
Ông John McCain đến thăm Hỏa Lò năm 2000 – Ảnh: Reuters
Theo ông, sau 25 năm, những con số so sánh nào trong quan hệ Việt – Mỹ ở mọi lĩnh vực khiến ông cảm thấy ấn tượng nhất?
Nếu nhìn vào chiều dài 25 năm phát triển quan hệ hai nước trên các mặt, có thể thấy hai nước từ cựu thù, đã trở thành đối tác và đối tác toàn diện với nhau. Đó là sự phát triển, mà nhiều người gọi là “vượt trên kỳ vọng”, quan hệ phát triển trên tất cả các mặt, từ chính trị, đối ngoại, cho đến kinh tế, thương mại, đầu tư, rồi khoa học, kỹ thuật, đến an ninh quốc phòng và giao lưu nhân dân. Có nhiều con số rất ấn tượng.
Điển hình, có thể nhìn vào một vài con số: Nếu ở thời điểm năm 1994-1995, thương mại hai nước chỉ 450 triệu USD, thì đến ngày nay đã là hơn 50 tỷ USD. Như vậy, sau 25 năm, quan hệ thương mại hai bên đã tăng trưởng hơn 100 lần. Đầu tư của Mỹ tại Việt Nam hiện đứng thứ 10.
Hay cũng có thể nhìn vào con số người Mỹ sang du lịch Việt Nam. Từ chỗ trước đây, số du khách Mỹ sang Việt Nam chỉ vài chục nghìn, thì đến bây giờ đã lên hơn 1 triệu, con số này là rất lớn. Rồi đến dự học sinh, trước đây những sinh viên Việt Nam đầu tiên đi theo dạng học bổng của Fulbright, ban đầu cũng chỉ có mấy chục người, thì đến ngày nay chúng ta có gần 30 nghìn sinh viên Việt Nam đang theo học ở Mỹ, đứng đầu trong số các nước Đông Nam Á.
Ông Barack Obama phát biểu tại đại học Fulbright năm 2016 – Ảnh: Đại học Fulbright
Nêu những câu chuyện trên để thấy rằng hai nước đã vượt qua một cuộc chiến tranh và mở rộng hợp tác, từ khi có khuôn khổ đối tác toàn diện thì quan hệ mở rộng toàn diện trên tất cả các mặt.
Sự thực là, nếu trước đây, người Mỹ biết đến Việt Nam chỉ như một cuộc chiến tranh, một cuộc chiến tranh mang tên Việt Nam, thì ngày nay Việt Nam đã được biết đến như một quốc gia độc lập, phát triển và có vị thế quốc tế trên mọi mặt.
Từ góc nhìn cá nhân của ông, quá trình đi tới bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ có phải là một con đường bằng phẳng không, và vì sao?
Rất nhiều khó khăn, trở ngại. Chắc chắn là như vậy. Hai nước đã trải qua một cuộc chiến tranh dài, có lẽ đó là cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại hiện đại, với rất nhiều thương vong, hậu quả, đặc biệt là ở phía Việt Nam, người dân Việt Nam. Rồi tiếp theo sau đó là câu chuyện của 20 năm cấm vận và thù địch. Câu hỏi đặt ra ở đây là làm sao vượt qua được những đau thương và thù địch của quá khứ.
Hai bên lại có chế độ chính trị rất khác nhau, vốn trải qua thời kỳ nghi kị và thù địch như vậy, không phải bỗng chốc mà hiểu được nhau. Vì vậy, một mặt cái khó là làm sao khép lại được quá khứ, hướng tới tương lai, mà mặt khác, cũng khó khăn không kém, là làm sao hai bên có thể xây dựng được lòng tin và hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, thì mới có thể có được quan hệ phát triển và đối tác toàn diện. Đó là một chặng đường rất dài.
Khởi đầu ngay từ sau kết thúc chiến tranh, trong các năm 1975-1995, đã có bao cuộc tiếp xúc, rồi các hoạt động hợp tác hiệu quả cùng nhau khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại. Phía Mỹ hỗ trợ cho Việt Nam trong tháo gỡ bom mìn, trong cái giúp đỡ nạn nhân trong chiến tranh hay là trong câu chuyện tẩy độc ở các vùng đất của Việt Nam, còn phía Việt Nam đã hợp tác, hỗ trợ phía Mỹ, với tinh thần nhân đạo, trong câu chuyện tìm kiếm hài cốt, quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Tiếp đó câu là việc Mỹ gỡ bỏ cấm vận và bình thường hoá quan hệ về kinh tế vào năm 1994, đến năm 1995 là bình thường hóa quan hệ ngoại giao, rồi đến việc hai bên phát triển quan hệ trên tất cả các mặt. Trong quá trình đó, câu chuyện làm sao để xây dựng lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau, là vấn đề rất cốt yếu. Đó cũng là câu chuyện dài và không ít khó khăn, nhưng 25 năm qua, hai bên đã có những bước tiến quan trọng và vững chắc. Chẳng hạn như các doanh nghiệp lớn của Mỹ ngày càng quan tâm và mở rộng hợp tác, làm ăn với Việt Nam. Hay việc Mỹ thông qua việc bình thường hóa quan hệ thương mại vĩnh viễn với Việt Nam và đồng ý ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO.
Năm 2013 là một dấu mốc quan trọng khi hai nước công bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, tạo khuôn khổ hợp tác toàn diện, lâu dài giữa hai nước. Tiếp đó, lần đầu tiên có chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tới Mỹ, vào 2015, hai bên ra Tuyên bố tầm nhìn, mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện, trên cơ sở các nguyên tắc như độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác cùng có lợi và nhất là tôn trọng thể chế chính trị của nhau.
Xin chân thành cám ơn ông !
Bài phỏng vấn tiếp theo với ông Phạm Quang Vinh sẽ nhìn lại những giai đoạn phát triển quan trọng nhất trong quan hệ Việt – Mỹ 25 năm qua, quan hệ Việt – Mỹ trong bối cảnh thế giới mới hiện nay có nhiều biến động.
Ngọc Diệp
