Xét đến tương quan lực lượng giữa hai nước vào lúc này, hai bên không đủ khả năng để có thể phát động cuộc Chiến tranh Lạnh toàn diện như trước, đại sứ Vinh nhận định.
Tính từ thời điểm Mỹ và Trung Quốc ký kết thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 vào tháng 1/2020, quan hệ Mỹ – Trung Quốc từ đó đến nay đã có quá nhiều thay đổi lớn ví như việc thực thi các cam kết trong thỏa thuận thương mại đương đầu với thách thức bởi hai bên đỗ lỗi cho nhau về đại dịch Covid-19, Trung Quốc và Mỹ căng thẳng với nhau về vấn đề Hồng Kông. Tất cả những yếu tố trên đã định hình đến quan hệ Trung Quốc – Mỹ như thế nào và nó phát đi chỉ báo gì cho tương lai?
Tạp chí Nhịp sống Doanh nghiệp BizLIVE đã có cuộc phỏng vấn với nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ – ông Phạm Quang Vinh để đi sâu làm rõ vấn đề.
Mỹ – Trung Quốc không đủ khả năng phát động cuộc Chiến tranh Lạnh toàn diện
Chính phủ Mỹ, Anh ngày một siết chặt kiểm soát đối với các doanh nghiệp công nghệ lớn của Trung Quốc, điển hình như Huawei Technologies, đây có phải chỉ báo cho thấy quan hệ Trung Quốc – Mỹ sẽ ngày một căng thẳng hơn, theo quan điểm của ông?
Nếu nhìn vào quan hệ Mỹ – Trung Quốc, mối quan hệ này đã có một thời gian dài vừa hợp tác vừa cạnh tranh, nhưng có lẽ đến thời kỳ Tổng thống Mỹ Donald Trump, nó mới chuyển sang can dự mang tính chất tích cực của Mỹ với Trung Quốc để Trung Quốc trở thành cổ đông, theo cách mà người ta gọi là cổ đông có trách nhiệm trong trật tự thế giới hiện đại.
Yếu tố cạnh tranh vẫn còn, nhưng Trump chuyển quan hệ của các nước lớn, đặc biệt quan hệ Mỹ – Trung Quốc thành cạnh tranh chiến lược và coi Trung Quốc là một trong những đối thủ cạnh tranh chiến lược. Chúng ta đã chứng kiến câu chuyện này một thời gian dài kể từ khi Tổng thống Trump nhậm chức Tổng thống.
Cho đến trước đại dịch, sự đối đầu này là cuộc chiến công nghệ, nó đã xảy ra rồi và cuộc chiến đó, như Tổng thống Trump nói là để lấy lại những gì đã mất trước đó với Trung Quốc. Nước Mỹ muốn giữ cương vị thứ nhất, Trung Quốc vươn lên nhưng đừng để ảnh hưởng đến cái đó. Câu chuyện thứ hai, lấy lại lợi ích của nước Mỹ là cuộc cạnh tranh về kinh tế. Mà cuộc cạnh tranh về kinh tế thì đi đâu là cạnh tranh về thương mại, tiếp đó đến cạnh tranh về khoa học công nghệ.
Những bước gần đây, nếu nói về Huawei, nhìn kỹ lại, rõ ràng Huawei đã vào danh sách đen có kiểm soát của Tổng thống Trump từ trước đại dịch, có rất nhiều hợp đồng hợp tác dịch vụ được ký kết với nhau. Nếu phần mềm, linh kiện Mỹ mà lấy từ các công ty Mỹ phải có sự cho phép của chính phủ, mà cái đó xảy ra từ trước đại dịch. Gần đây nhất chỉ thêm phần mềm và các chip điện tử bị đưa vào diện kiểm soát, Huawei muốn làm ăn với công ty Mỹ phải xin phép. Sự chặt chẽ của Mỹ với Huawei bị đẩy lên một ngưỡng cao nữa.
Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng giám đốc Huawei ông Nhậm Chính Phi – Ảnh: GettyImages
Vậy câu chuyện này là gì? Câu chuyện này có 2 ý, trước tiên là sự tiếp nối của sự cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc đã diễn ra từ trước đại dịch, cuộc chiến về thương mại, công nghệ cũng đã diễn ra từ trước đại dịch. Qua đại dịch lần này, nước nào cũng thiệt hại cả. Tất cả các trung tâm dịch đều nằm ở trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, từ châu Á, đặc biệt Trung Quốc, rồi đến toàn châu Âu và đến cả nước Mỹ. Nước nào trong lòng nó cũng có sự khó khăn.
Nhưng lần này mọi chuyện đã khác. Trước đây khi có đại dịch, cả thế giới cùng phối hợp để vượt qua đại dịch để cùng đưa thế giới này ra khỏi đại dịch thì lần này, dường như họ tìm cách đổ lỗi cho nhau, Một bên đổ lỗi cho bên này là không kiểm soát, là giấu thông tin, thậm chí kết tội cả Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Bên kia cũng lại đưa ra những biện pháp khác để chỉ trích lại.
Bề nổi như vậy nhưng đằng sau nó có 2 vấn đề nảy sinh. Thứ nhất, lòng tin chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt Mỹ – Trung Quốc xuống rất thấp trong nhiều thập kỷ qua. Thứ hai, vấn đề nội bộ của từng nước, Mỹ trong Trung Quốc và Trung Quốc trong lòng nước Mỹ trở thành vấn đề chính trị, thế nên câu chuyện nội bộ, câu chuyện đối ngoại chắc chắc sẽ làm cho cạnh tranh này tăng lên. Từ nay cho đến bầu cử Mỹ, chắc đây vẫn là câu chuyện rất căng thẳng.
Thế nhưng nếu nhìn vào cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc từ trước đến nay, cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc có cả địa chiến lược và có cả vấn đề kinh tế, nhưng nó rất khác với cạnh tranh thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây. Cạnh tranh thời Chiến tranh Lạnh trước đây có mấy vấn đề bao gồm cạnh tranh đối đầu trên tất cả các mặt, có cả ý thức hệ, có cả chạy đua vũ trang và cả về kinh tế. Cái thứ 2 là Chiến tranh Lạnh tạo ra 2 hệ thống biệt lập, không quan hệ với nhau, thù địch với nhau. Cái thứ 3, quan trọng nhất là mục tiêu của cuộc chiến tranh này là làm sụp đổ phía bên kia.
Nhìn vào tình thế đối đầu Mỹ – Trung Quốc hiện nay, nhiều người nói rằng nó có thể dẫn đến cuộc Chiến tranh Lạnh thứ 2, nhưng mà nếu mình nhìn vào những cái đó thì dường như không phải, người ta cạnh tranh, gây sức ép kể cả cuộc chiến thương mại, công nghệ trên nhiều lĩnh vực nhưng dường như người ta muốn định vị lại, kiếm được lợi ích tốt hơn, như vậy cánh cửa hợp tác vẫn còn.
Ảnh: Reuters
Thời đại bây giờ và nhất là sau bốn chục năm cải cách của Trung Quốc và Trung Quốc hội nhập với thế giới thì chuỗi cung ứng đan xen với nhau, lợi ích của các nước không phải biệt lập thành 2 khối như ngày xưa để đối chọi nhau mà họ vẫn phải tiếp tục làm ăn với nhau.
Nước Mỹ có lợi ích phải tiếp tục làm ăn với Trung Quốc dù rằng ông muốn tách ra một phần, dù rằng ông đánh thuế ngân hàng Trung Quốc nhưng cũng để tìm cho mình lợi hơn chứ không phải để cách ly hoàn toàn và chắc chắn ngược lại Trung Quốc cũng vậy, Trung Quốc cũng muốn vươn lên, có địa vị xứng đáng hơn, muốn kiếm lợi nhiều hơn, nhưng đồng thời vẫn cần các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như châu Âu hay Mỹ để tiếp tục phát triển bền vững. Hai bên làm căng hơn, định vị lại lợi ích nhiều hơn nhưng không phải để triệt tiêu nhau.
Thứ ba nữa, xét đến tương quan lực lượng giữa hai nước vào lúc này, hai bên không đủ khả năng để có thể phát động cuộc Chiến tranh Lạnh toàn diện như trước. Và như vậy có thể thấy cuộc cạnh tranh Trung – Mỹ lần này có cả trước mắt và có cả lâu dài, trước mắt là lợi ích kinh tế và lâu dài là cuộc chiến tranh làm sao khôi phục được ngôi vị. Người ta sẽ vừa đấu tranh với nhau, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, cạnh tranh sẽ gia tăng nhưng mặt hợp tác vẫn còn. Tính đối đầu giữa họ không phải mấy chốc mà mất đi.
Không nên mãi ngộ nhận Hồng Kông không phải của Trung Quốc
Thưa ông, mới đây nhất, Trung Quốc thông qua luật an ninh Hồng Kông với mục tiêu kiểm soát chặt chẽ hơn thành phố này. Đáp lại, phía Mỹ cũng tuyên bố sẽ rút đi cơ chế ứng xử đặc biệt với Hồng Kông, vậy theo ông, vấn đề Hồng Kông liệu có gây ra căng thẳng quá lớn trong quan hệ Mỹ – Trung hay không? Mỹ liệu có siết chính sách với HK thật hay không hay chỉ là “đòn gió”?
Trước hết, nhìn vào câu chuyện Hồng Kông, ở đây có 2 câu chuyện. Một câu chuyện liên quan đến vị trí của Hồng Kông với tư cách một trung tâm tài chính. Câu chuyện thứ hai là câu chuyện chuyển giao từ Anh sang Trung Quốc và câu chuyện chủ quyền của Trung Quốc với Hồng Kông.
Quy chế ứng xử đặc biệt mà Mỹ dành cho Hồng Kông năm trong gói trao trả từ năm 1997. Đối với Trung Quốc, với Mỹ và tất cả các nước khác, không nước nào có lợi khi cơ chế ứng xử đặc biệt với Hồng Kông bị rút đi hoặc vị thế trung tâm tài chính của Hồng Kông bị phá bỏ.
Nhưng Mỹ có lợi, phương Tây có lợi và rất nhiều nước khác có lợi nếu Hồng Kông tiếp tục giữ vai trò này. Bản thân với Trung Quốc, đây là cửa ngõ để Trung Quốc hút vốn vào đầu tư cũng như giao dịch tài chính. Nhưng với Trung Quốc, nếu phải lựa chọn giữa quy chế kinh tế, vị trí tài chính của Hồng Kông với vấn đề có thể xâm phạm đến cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc với Hồng Kông, chắc chắn Trung Quốc sẽ chọn chủ quyền. Cần phải thừa nhận như thế này: khi anh được trao trả về Trung Quốc, tức là chủ quyền thuộc về Trung Quốc.
Ngoài ra, phản ứng của các nước trước việc Trung Quốc có thể áp đặt thêm luật an ninh quốc gia với Hồng Kông, cũng đúng khi các nước phản ứng bởi khi trao trả Hồng Kông về Trung Quốc, từng có một cam kết rằng sau 50 năm mới chuyển giao thứ này, thứ kia, trở về lúc ban đầu và có một khoảng thời gian quá độ như vậy. Câu chuyện này các bên sẽ phải tiếp tục đấu tranh giải quyết với nhau.
Người biểu tình Hồng Kông vẫy cờ Mỹ. Ảnh: GettyImages
Chúng ta cũng đã thấy rằng Mỹ có phản ứng rồi, Anh có phản ứng rồi và những nước khác cũng đã có phản ứng rồi. Chúng ta cần nhìn nhận rõ câu chuyện rằng nếu Hồng Kông về Trung Quốc sớm hơn, bỏ qua giai đoạn quá độ này, Hồng Kông cũng chẳng thể được hưởng những quy chế ứng xử đặc biệt này. Mỹ -Trung Quốc đang đấu nhau, nếu Hồng Kông không còn là quy chế đặc biệt, mà quy chế đặc biệt ở đây không phải chỉ vấn đề pháp luật và chính trị mà còn các vấn đề kinh tế, tức là các công ty Mỹ và vấn đề đồng tiền của Hồng Kông với đồng tiền Mỹ, nó có các quy chế giao dịch khác với đồng nhân dân tệ, nó có những quy chế khác, nó hoàn toàn thị trường hơn, rõ ràng Hồng Kông được hưởng quy chế đặc biệt.
Còn khi mà Trung Quốc áp luật vào đây, còn phải xem xem quá trình Trung Quốc áp luật an ninh quốc gia vào đây, nó sẽ thực sự thay đổi cả về kinh tế, chính trị và pháp luật của Hồng Kông trong thời kỳ quá độ này. Chuyện rút đó và chuyện Mỹ sẽ áp dụng việc rút đó sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách Trung Quốc áp đặt lên Hồng Kông.
Nếu Mỹ thực sự quyết định rút hoàn toàn hết tất cả, thì trên thực tế, một Hồng Kông về Trung Quốc đã trở thành sự thật và diễn ra sớm hơn. Và trong câu chuyện này, có lẽ cư dân Hồng Kông sẽ bị đẩy đến chuyện một bên Hồng Kông bị Trung Quốc áp đặt và một bên Anh, Mỹ rút ra, họ thực sự trở về với Trung Hoa đại lục theo cái cách không giống như trong thỏa thuận 1997. Mọi chuyện trở nên áp đặt hơn, đột ngột hơn và họ sẽ trở nên ngỡ ngàng trong câu chuyện này. Sẽ cần phải theo dõi thêm.
Quay trở lại vế đầu, nếu buộc Trung Quốc phải lựa chọn giữa vị trí kinh tế của Hồng Kông mà Trung Quốc cũng rất muốn giữ trong giai đoạn quá độ, nhưng nếu điều này thách thức đến chủ quyền của Trung Quốc, Trung Quốc lựa chọn gì Mỹ cũng thừa hiểu, Anh biết việc đó và tôi cũng tin rằng phương Tây quá hiểu chuyện đó.
Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục theo dõi xem việc áp dụng luật này sẽ ảnh hưởng như thế nào lên quy chế kinh tế đặc biệt của Hồng Kông hay không, người ta có thể áp dụng pháp luật để đảm bảo chủ quyền của mình không bị ảnh hưởng, nhưng người ta vẫn có giải pháp để giữ cho quy chế kinh tế của khu vực này được đảm bảo và nếu như vậy có những phản ứng về chính trị nhưng vẫn giữ được phần nào đấy quy chế đặc biệt về kinh tế.
Về cơ chế đặc biệt với Hồng Kông này, phải nhấn mạnh Trung Quốc cũng muốn giữ bởi Trung Quốc cũng có lợi, Mỹ cũng muốn có lợi, Anh cũng muốn có lợi, nhiều nước khác cũng muốn có lợi, các nước châu Âu, phương Tây khác cũng muốn có lợi.
Người ta cũng không nên mãi ngộ nhận Hồng Kông cứ mãi không phải của Trung Quốc, Hồng Kông là của Trung Quốc và điều đó đã được giải quyết xong, mọi chuyện đã được giải quyết từ 1997. Bất kỳ một sự ngộ nhận nào, kể cả các cư dân ở đây, kể cả bên ngoài và kể cả Trung Quốc, không thể có sự phủ định nào.
Thứ hai, giải pháp 1997 có một giai đoạn quá độ là 70 năm, trong giai đoạn quá độ đó, Trung Quốc có cam kết, các nước khác có cam kết Hồng Kông dần trở về Trung Quốc, thế thì nếu nó được ổn thỏa như vậy, nó đạt được cả hai mục đích. Nhưng nếu có bất kỳ sự tác động nào, thì nghiêng về bên này hay bên kia, người Hồng Kông chịu nhiều bất lợi nhất.
Mỹ – Trung Quốc: Vừa đấu tranh nhưng cũng vừa để cửa hợp tác
So với thời điểm thỏa thuận thương mại lần 1 được ký kết vào tháng 1/2020, quan hệ Mỹ – Trung Quốc trong thời gian qua đã thay đổi như thế nào, và điều này tác động thế nào đến khu vực chúng ta đang sống, theo quan điểm của ông?
Câu chuyện trước đại dịch hai bên đạt được thỏa thuận cần phải được nhìn theo nhiều chiều và ít nhất ở hai vấn đề. Tại sao nó lại được gọi là giai đoạn một, bởi vì nó còn phải có nhiều giai đoạn hai. Tức là cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung Quốc không còn chỉ nằm ở thỏa thuận giai đoạn một mà nó còn cuộc cạnh tranh dài hơn và chí ít, ngay như người ta nói trong lĩnh vực kinh tế và thương mại, nó còn có cả những câu chuyện mà Mỹ và Trung Quốc có thể hợp tác có đi có lại bình đẳng với nhau.
Các chuyện đó như Trump và Trung Quốc nói là Trung Quốc không còn gian lận thương mại, Trung Quốc không đánh cắp công nghệ, Trung Quốc phải đối xử bình đẳng với các công ty của Mỹ và các nước phương Tây khác làm ăn ở Trung Quốc và Trung Quốc không áp đặt vì lợi thế của thị trường 1,4 tỷ dân mà buộc phải chuyển giao công nghệ một cách bắt buộc. Tất cả những thứ đó nó là câu chuyện tiếp theo của riêng vấn đề kinh tế, chưa kể đến câu chuyện địa chiến lược ở ngôi vị số 1, số 2.
Nhưng vế thứ 2 cũng cho thấy rằng người ta đạt được thỏa thuận giai đoạn 1, người ta gây sức ép cạnh tranh lên rất căng, đánh thuế nhiều chiều, gây áp lực về chính sách chính trị và kinh tế, người ta không để triệt tiêu nhau mà người ta muốn giành được một thỏa thuận nào đó. Sau đại dịch, cộng thêm yếu tố đổ lỗi cho nhau, cộng thêm yếu tố lòng tin giảm đi.
Ảnh: GettyImages
Và người ta nhận ra rằng trong cái chuỗi cung ứng mà tưởng như mọi người đều có lợi thì nước Mỹ, châu Âu thấy mình bất lợi hơn, ngoài ra, quá phụ thuộc vào Trung Quốc đến nỗi để đến lúc lợi ích an ninh quốc gia có thể chịu tác động nặng nề, họ tìm cách định hình lại để không quá lệ thuộc vào Trung Quốc, đa dạng hóa lại thị trường, đa dạng hóa lại nguồn cung ra khỏi Trung Quốc trong chiến lược Trung Quốc ++.
Tóm lại, qua đại dịch, lòng tin giảm đi, người ta định vị lại lợi ích, tránh đi việc quá phụ thuộc vào một thị trường nhất định thì chắc chắn cuộc cạnh tranh này gia tăng, chưa kể mỗi bên có vấn đề nội bộ là cuộc bầu cử sắp tới. Mà cuộc bầu cử sắp tới, Tổng thống Trump có nhiều vấn đề nội bộ hơn là vấn đề bầu cử mà còn là Covid còn là biểu tình và rất nhiều thứ khác. Cho nên đấu tranh sẽ căng hơn, thỏa thuận sẽ khó hơn mà ngay thỏa thuận giai đoạn một, hai bên gặp nhau vẫn muốn giữ. Từ trước đến giờ, dù cạnh tranh gia tăng nhưng hai bên vẫn để cửa cho sự hợp tác.
Sự phụ thuộc lẫn nhau không phải sớm mà tách rời được. Cá nhân tôi, đứng ở góc độ chính trị đối ngoại cũng đã chia sẻ nhiều lần về sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng. Phải nhìn nhận ở đây có rất nhiều sự chuyển dịch nhiều chiều của chuỗi cung ứng. Thứ nhất lâu nay các công ty xuyên quốc gia, công ty toàn cầu họ dịch chuyển khắp thế giới, kể cả vào Trung Quốc hay ra khỏi Trung Quốc chính xuất phát từ lợi suất kinh tế và lợi nhuận. Lợi nhuận ở đây là quy mô thị trường lớn, sức lao động rẻ và thời gian qua Trung Quốc có 4 thập kỷ phát triển.
Ngay những phức tạp về chính trị này mà nó dẫn đến 2 yếu tố mà các doanh nghiệp họ căn cứ vào đó để tính lợi ích kinh tế, trước đại dịch họ đã đánh thuế rồi. Đánh thuế này làm cho các sản phẩm có hàm lượng Trung Quốc cao vào Mỹ sẽ đắt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp của Mỹ và châu Âu nếu dịch chuyển đi cũng sẽ chỉ một phần thôi. Những phần quay trở lại để bán ở Mỹ sẽ thiệt, thế nên họ dịch chuyển phần đó chứ cũng không dịch chuyển cả.
Ảnh: GettyImages
Các trung tâm kinh tế trong hoạt động năng động của mình liên tục hình thành những chuỗi cung ứng mới. Có thể lấy ví dụ Trung Quốc khi đưa ra sáng kiến Vành đai & Con đường, thiết lập quan hệ và chuyển vốn Trung Quốc xây dựng hạ tầng đưa vốn Trung Quốc xây dựng các nước khác, và chính thông qua đó, ngoài yếu tố về địa chính trị và nó cũng tạo ra trên thực tế những chuỗi cung ứng mới. Hay Mỹ cũng đưa ra chuỗi Indo-Pacific với nhiều thỏa thuận thương mại khác mới ký kết hoặc một số thỏa thuận mới ký kết. Trong khu vực cũng đang tính đến ASEAN ++ hoặc RCEP, nó cũng sẽ ra những chuỗi cung ứng mới.
Bất kỳ nước nào lựa chọn đón những làn sóng trên phải nhìn vào 3 làn sóng dịch chuyển trên và cần nhớ rằng có những dịch chuyển bền vững, chất lượng nhưng có những dịch chuyển chất lượng thấp và ngắn hạn. Và có cả những câu chuyện thâu tóm, những công ty tiềm lực tài chính mạnh sẽ đi thâu tóm.
Xin cám ơn ông vì những chia sẻ!
Ngọc Diệp
