VKSND Cấp cao tại TP.HCM quyết định kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 268 ngày 6/8/2018 của TAND TP.HCM về phần thu hồi tài sản đối với số tiền 4.500 tỷ đồng.
VKSND Cấp cao tại TP.HCM vừa có quyết định kháng nghị phúc thẩm liên quan tới Bản án hình sự sơ thẩm số 268 ngày 6/8/2018 của TAND TP.HCM trong vụ án Phạm Công Danh giai đoạn 2.
Viện này nêu, bản án sơ thẩm nhận định số tiền 4.500 tỷ đồng là do bị cáo Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Ngân hàng VNCB, nguyên chủ tịch Tập đoàn Thiên Thanh thông qua các cá nhân, tổ chức chuyển về Ngân hàng VNCB để nâng vốn điều lệ nên về thực chất số tiền này là của bị cáo Danh, do ngân hàng chưa thực hiện nâng vốn điều lệ hay hạch toán điều chỉnh đối với số tiền này nên phải hạch toán trả lại cho các cá nhân góp vốn, thực chất là của bị cáo Danh.
Từ đó, án sơ thẩm tuyên thu hồi số tiền 4.500 tỷ đồng được xem như là của bị cáo Danh từ Ngân hàng CB, trong đó khấu trừ hơn 2.371 tỷ đồng được xem như đã thu hồi liên quan đến hành vi Cố ý làm trái của bị cáo Danh trong vụ án này nên chỉ còn phải thu hồi từ Ngân hàng CB hơn 2.128 tỷ đồng để đảm bảo thi hành án nghĩa vụ dân sự của bị cáo Danh trong cả giai đoạn 1, 2 của vụ án và các nghĩa vụ dân sự khác của bị cáo Danh.
VKSND Cấp cao tại TP.HCM cho rằng, nhận định số tiền tăng vốn điều lệ 4.500 tỷ đồng của bị cáo Danh và quyết định thu hồi số tiền này là không có căn cứ.
Thứ nhất, không có căn cứ hợp pháp để cho rằng số tiền 4.500 tỷ đồng dùng tăng vốn điều lệ là của bị cáo Danh. Vì số tiền này do bị cáo Danh có được từ quan hệ tín dụng đi vay, trong đó có 4.000 tỷ đồng từ khoản vay 4.700 tỷ đồng tại BIDV, 200 tỷ đồng từ khoản vay hơn 1.666 tỷ đồng tại TPBank và 300 tỷ đồng từ nguồn sử dụng 3 hồ sơ khống của các cá nhân trong nhóm Trần Ngọc Bích (Tập đoàn Tân Hiệp Phát) vay ra từ VNCB. Các hồ sơ vay tiền là hồ sơ khống, các quan hệ tín dụng này đã được kết luận và xác định là trái pháp luật. Như vậy, nguồn gốc số tiền 4.500 tỷ đồng dùng để tăng vốn điều lệ Phạm Công Danh có được là do hành vi trái luật và đã bị xử lý trong giai đoạn 1 là 300 tỷ đồng và trong vụ án này là 4.200 tỷ đồng nên số tiền này có nguồn gốc bất hợp pháp.
Số tiền 4.500 tỷ đồng ngoài việc hình thành từ các quan hệ tín dụng trái luật còn trên cơ sở tài sản đảm bảo là 6 lô đất bị nâng khống giá trị lên nhiều lần, dùng tiền gửi của VNCB để bảo lãnh cho tiền vay trái luật và tút tiền từ VNCB bằng các hồ sơ tín dụng trái luật. Do vậy, số tiền 4.500 tỷ đồng không thể xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Danh.
Thứ hai, số tiền 4.500 tỷ đồng đã được bị cáo Danh sử dụng hết, nay buộc Ngân hàng CB phải trả lại là không phù hợp. Vì sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không chấp nhận tăng vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 7.500 tỷ đồng thì ông Danh không chỉ đạo trả lại 4.500 tỷ đồng cho các cổ đông góp vốn mà giữ lại sử dụng hết. Khi Nhà nước tiếp quản VNCB, ngân hàng này đang trong tình trạng âm vốn chủ sở hữu, tổng nợ phải trả lớn hơn tổng tài sản. Nhà nước phải bù lỗ để giải quyết các hậu quả thiệt hại. Nay Ngân hàng CB phải gánh chịu toàn bộ số tiền 4.500 tỷ đồng mà Phạm Công Danh đã sử dụng, nghĩa là Nhà nước sẽ tiếp tục bị thiệt hại số tiền 4.500 tỷ đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật và Nhà nước sẽ phải bù lỗ hàng nghìn tỷ đồng để đảm bảo quyền lợi của người dân đang gửi tiền tại CB nhằm giữ ổn định tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, số tiền 4.500 tỷ đồng chưa được hạch toán tăng vốn điều lệ cho VNCB vì NHNN không chấp nhận việc dùng tiền vay để tăng vốn điều lệ nên không có cơ sở pháp lý buộc CB trả lại số tiền này.
Theo đề án tái cơ cấu VNCB do NHNN trình và được Thủ tướng phê duyệt thì “không dùng vốn ủy thác, vốn huy động, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn, mua cổ phần phát hành thêm của Ngân hàng xây dựng”, trong khi toàn bộ nguồn tiền dùng để xin tăng vốn điều lệ là tiền đi vay. Để che giấu nguồn gốc số tiền 4.500 tỷ đồng đi vay Phạm Công Danh đã nhờ 22 cá nhân là người nhà, người thân và nhân viên của Danh ký các hợp đồng hợp tác đầu tư, thỏa thuận không có thật, nhằm chứng minh nguồn tiền tăng vốn là do các cổ đông góp vốn mua cổ phần tăng thêm. Do vậy, NHNN không chấp nhận việc tăng vốn vì vốp góp hình thành từ tiền vay và khoản tiền này chưa được hạch toán để tăng vốn điều lệ nên không có cơ sở pháp lý để xác định đây là tiền của các cổ đông này và không có cơ sở cho rằng CB phải kế thừa trách nhiệm trong việc trả lại tiền cho cổ đông.
Thứ tư, số tiền 4.500 tỷ đồng không phải là đối tượng giải quyết của vụ án và không phải là vật chứng của vụ án nhưng Bản án sơ thẩm nhận định trong số tiền 4.500 tỷ đồng có hơn 2.371 tỷ đồng từ khoản vay của TPBank và BIDV được xem là vật chứng của vụ án nên xem như đã thu hồi, chỉ phải thu hồi số tiền còn lại là hơn 2.128 tỷ đồng, nghĩa là coi 4.500 tỷ đồng là đối tượng của hành vi phạm tội là vật chứng của vụ án phải thu hồi nhưng không chứng minh được số tiền 4.500 tỷ đồng thuộc hành vi phạm tội nào trong vụ án này.
Như vậy, VKSND Cấp cao tại TP.CHM cho rằng, tuy Phạm Công Danh chuyển số tiền 4.500 tỷ đồng về VNCB đứng tên các cổ đông nhằm góp vốn mua cổ phần tăng thêm nhưng nguồn gốc số tiền này là bất hợp pháp và không phải của bị cáo Danh, số tiền 4.500 tỷ đồng này chưa được NHNN cho phép hạch toán tăng vốn điều lệ cho VNCB và Phạm Công Danh đã sử dụng hết, nên không có cơ sở pháp lý buộc VNCB, nay là CB trả lại 4.500 tỷ đồng cho Phạm Công Danh.
Hơn nữa số tiền này không phải là đối tượng giải quyết của vụ án và không phải là vật chứng của vụ án nên không có cơ sở thu hồi. Bản án sơ thẩm nhận định số tiền này được xem như của Phạm Công Danh, từ đó tuyên thu hồi là không có căn cứ, không hợp pháp, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước tại CB.
Theo đó, VKSND Cấp cao tại TP.HCM quyết định kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 268 ngày 6/8/2018 của TAND TP.HCM về phần thu hồi tài sản đối với số tiền 4.500 tỷ đồng.
Viện cũng nêu đề nghị TAND Cấp cao tại TP.HCM xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng không khấu trừ hậu quả và thu hồi số tiền 4.500 tỷ đồng đối với Ngân hàng CB như quyết định của án án 268 của TAND TP.HCM.
HUYỀN TRÂM
