Trả lời Hội đồng xét xử về các kết luận giám định của NHNN về sai phạm của BIDV, bà Phương cho rằng về cơ bản BIDV thống nhất, tuy nhiên có một số điểm không thống nhất.
Chiều 12/1, phiên xử sơ thẩm vụ án Phạm Công Danh và 46 bị cáo tiếp tục với phần xét hỏi của Viện kiểm sát, trong đó có đề cập tới kết quả giám định về sai phạm của BIDV liên quan tới khoản 4.700 tỷ cho VNCB vay.
Theo cáo trạng, Kết luận giám định số 3912 ngày 27/5/2016 và kết luận giám định bổ sung số 8671 ngày 11/11/2016 của Đoàn giám định NHNN đã kết luận sai phạm của BIDV trong quá trình thẩm định, xét duyệt, ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố/bảo lãnh, giải ngân, kiểm tra sau giải ngân.
Cụ thể, về điều kiện vay vốn của khách hàng: Việc BIDV xem xét và quyết định cho vay khi chưa đủ cơ sở để xác định khách hàng có khả năng trả nợ trong hạn cam kết, có phương án khả thi và hiệu quả là chưa thực hiện đầy đủ về điều kiện cho vay đối với khách hàng theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 7 Quyết định 1627.
Về việc nhận tài sản đảm bảo của khách hàng: BIDV xem xét và quyết định cho vay đối với khách hàng khi khách hàng chưa thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm tài sản thế chấp (lô số 13 và 14 Khu phức hợp TMDV cao tầng tại SVĐ Chi Lăng – TS bên thứ ba: Cty Toàn Tâm và Cty Trung Dung) là chưa thực hiện đầy đủ điều kiện cho vay theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 Quyết định 1627.
Về việc nhận bảo lãnh của VNCB để bảo đảm cho các khoản vay: Tại hợp đồng cầm cố giữa 3 bên VNCB, BIDV và khách hàng, phía VNCB (người bảo lãnh) chỉ có một chữ ký của Tổng giám đốc là chưa phù hợp tại Khoản 1 Điều 15 Thông tư 28.
Việc BIDV xem xét và quyết định cho vay đối với các công ty khi khách hàng và VNCB chưa thực hiện bảo đảm tiền vay đúng theo quy định về bảo lãnh là thực hiện chưa đầy đủ về điều kiện vay vốn của khách hàng theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 Quyết định 1627.
Về kiểm tra sau cho vay: Việc BIDV, CN Sở giao dịch 2 chỉ có văn bản yêu cầu khách hàng vay vốn cung cấp chứng từ chứng minh việc sử dụng vốn và sắp xếp để ngân hàng kiểm tra sau cho vay không kiểm tra sau cho vay đối với khách hàng là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 21 Quyết định 1627 (đã được sửa đổi tại Khoản 5, Điều 1, Quyết định 127), Khoản 3 Điều 94 Luật các TCTD 2010.
Theo đó, Chủ tọa gọi thêm một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại BIDV trong vụ việc BIDV cho VNCB vay 4.700 tỷ đồng nhưng phần lớn vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Phương, Giám đốc Ban pháp chế BIDV, đại diện theo ủy quyền của BIDV đã nêu ý kiến trước HĐXX.
Bà Phương cho biết, về cơ bản tất cả quy trình cho vay đã thực hiện đúng Quyết định 1627, quy chế cho vay nội bộ của BIDV, quy trình cấp tín dụng khách hàng doanh nghiệp, các quy định liên quan đến vấn đề nhận tài sản bảo đảm của Luật Dân sự, Nghị định 163 liên quan đến Thông tư 28…
Trả lời HDXX về các kết luận giám định của NHNN về sai phạm của BIDV, bà Phương cho rằng về cơ bản BIDV thống nhất, tuy nhiên có một số điểm không thống nhất.
Thứ nhất bà Phương cho biết, về kết luận của giám định nói đây là hợp đồng bảo lãnh theo Thông tư 28 khi BIDV nhận tài sản bảo đảm của VNCB, theo luật Dân sự bà Phương khẳng định đó là biện pháp cầm cố tài sản cho bên thứ ba chứ không phải biện pháp bảo lãnh. Bà Phương lý giải bảo lãnh phải là không có tài sản, còn trường hợp này BIDV có nhận tài sản là tiền gửi và có chuyển giao tài sản tiền gửi nên phải là cầm cố.
Theo đó bà Phương cho rằng theo quy định của pháp luật trong hợp đồng cầm cố, hai chủ thể được phép thực hiện cầm cố, không cần đại diện VNCB phải có 3 chữ ký như giám định của NHNN.
Bà Phương cũng nếu rõ trên giấy tờ ghi là Hợp đồng cầm cố tiền gửi theo mẫu chung của BIDV chứ không phải là hợp đồng bảo lãnh. Nội dung các hợp đồng xác định bên cầm cố, bên nhận cầm cố, bên được bảo đảm biện pháp cầm cố (12 doanh nghiệp do VNCB giới thiệu), xác định nghĩa vụ được bảo đảm theo các hợp đồng tín dụng và giá trị tài sản cầm cố, biện pháp phong tỏa, các trường hợp vi phạm thì nghĩa vụ VNCB đến đâu và quyền của BIDV đến đâu.
Giám định của NHNN cũng nêu BIDV có hành vi vi phạm cho vay nhưng không gây thiệt hại. BIDV đã có văn bản nêu đây là thiếu sót chung trong quy trình cho vay vốn nhưng là sai phạm không trọng yếu, liên quan quy định nội bộ của BIDV.
Thực tế khi BIDV cho 12 doanh nghiệp vay, khi không có báo cáo tài chính kiểm toán thì đã có biện pháp phòng ngừa khác là yêu cầu có 30% vốn tự có, thực tế các doanh nghiệp này đã có 30% vốn tự có và chứng minh được. BIDV cũng đã tổ chức xử lý kỷ luật các cán bộ có liên quan.
Chủ tọa đặt câu hỏi tiền chuyển về BIDV là tiền cố ý làm trái mà có, quan điểm của BIDV thế nào? Bà Phương trả lời tiền là vật cùng loại, theo quy định của Bộ Luật dân sự, việc chuyển giao quyền sở hữu với các tài sản cùng loại được bảo đảm khi chuyển giao.
Bà Phương nhấn mạnh khi BIDV thu tiền vay của khách hàng, BIDV không có trách nhiệm và nghĩa vụ phải chứng minh tiền đó từ đâu, mặc định tiền ở tài khoản thanh toán phải được suy đoán là tài sản hợp pháp của các cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản đó. Trong trường hợp đi theo nhận định đó thì sẽ tạo một tiền lệ hết sức nguy hiểm, các tổ chức tín dụng và ngân hàng sẽ không thể tin tưởng khách hàng và cũng quá phức tạp phải tìm hiểu tiền ở đâu ra.
Đại diện BIDV cũng nhấn mạnh giao dịch 4.700 tỷ đồng là giao dịch giữa 2 pháp nhân là BIDV và VNCB chứ không liên quan tới bất kỳ cá nhân nào ở Tập đoàn Thiên Thanh.
Huyền Trâm
