Nhiều chuyên gia tài chính từng tỏ ra quan ngại, việc tăng trưởng tín dụng quá mạnh có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng liên quan đến việc kiểm soát nguồn vốn cũng như chất lượng các khoản tín dụng khi một lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông trong một thời gian ngắn.
Dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2017 đạt 18%-19%
Theo báo cáo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, tín dụng của hệ thống ngân hàng đã được đẩy nhanh hơn đáng kể trong tháng vừa qua.
Cụ thể, tính đến cuối tháng 11/2017, tổng tín dụng ước tăng 2,8% so với tháng 10, đồng thời tăng 15,3% so với thời điểm đầu năm. Con số này thấp hơn một chút so với tốc độ tăng 15,6% của cùng kỳ năm 2016.
Về cơ cấu, sự thay đổi tiếp tục diễn ra khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn của toàn hệ thống có xu hướng giảm nhẹ trong khi cho vay ngắn hạn ngược lại có xu hướng tăng.
Cụ thể, tín dụng trung và dài hạn chiếm 53,8% tổng tín dụng (giảm so với mức 55,1% vào thời điểm cuối năm ngoái). Trong khi đó, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tăng lên mức 48,7% từ mức 44,9% vào cuối năm 2016.
Như vậy có thể thấy nhiều khả năng các NHTM đang thực hiện giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn theo đúng lộ trình tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN sửa đổi về giới hạn đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD.
Xu hướng này được dự báo sẽ còn tiếp diễn trong năm 2018 khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn giảm xuống chỉ còn 40% thay cho mức 50% trong năm 2017.
Theo đánh giá của các chuyên gia tại công ty chứng khoán BVSC, với mức tăng 15,3% như trên, nhiều khả năng tăng trưởng tín dụng trong cả năm nay tối đa sẽ chỉ ở mức 18-19%, tức hệ thống ngân hàng sẽ không dùng hết “room” đã được nới thêm (khoảng 21-22%).
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, rất có thể sức hấp thụ vốn của các doanh nghiệp hiện tại là có hạn và nền kinh tế chỉ yêu cầu tín dụng tăng ở mức 15-18%/năm là vừa phải mà không gây quá nhiều rủi ro về nợ xấu tiềm tàng.
Thứ hai, một số ngân hàng muốn tăng trưởng cho vay thêm nhưng ngay trong hai quý đầu năm đã gần sắp hết “quota” như VIB, ACB HDBank, MBB…
Thứ ba là các ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất hệ thống như Vietcombank, BIDV, Vietinbank đang gặp khó khăn về tăng vốn, hệ số CAR của các ngân hàng này cũng đang tiệm cận dần về mức 9%. Do vậy, nếu không sớm tăng được vốn trong thời gian sắp tới, việc phát triển tín dụng của những ngân hàng này chắc chắn sẽ gặp khó khăn, ít nhất là không thể tăng trưởng mạnh được.
Theo đó, BVSC dự báo, tăng trưởng tín dụng cho cả năm 2017 nhiều khả năng sẽ đạt mức tương đương với năm 2016.
Nhiều rủi ro tiềm ẩn nếu dùng hết “room”
Trong khi đó, nhiều chuyên gia tài chính cũng từng tỏ ra quan ngại, việc tăng trưởng tín dụng quá mạnh có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng liên quan đến việc kiểm soát nguồn vốn cũng như chất lượng các khoản tín dụng khi một lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông trong một thời gian ngắn.
Ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng, Quyền Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam cho rằng, sự tăng trưởng hàm lượng tín dụng và tăng trưởng tín dụng cao kéo dài có thể làm dấy lên quan ngại về chất lượng tài sản, nhất là trong điều kiện nợ xấu trước đây vẫn chưa được xử lý triệt để.
Theo đó, chuyên gia này cho rằng, Việt Nam cần giảm phụ thuộc vào ngành ngân hàng để tăng trưởng kinh tế, thay vào đó là thúc đẩy thị trường vốn.
Đồng quan điểm, TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính ngân hàng cũng cho rằng, tăng trưởng tín dụng không có mối quan hệ quá chặt chẽ với tăng trưởng GDP.
Trong khi đó, nếu tín dụng cả năm được đưa lên mức quá cao sẽ có một số hệ luỵ cần phải được phân tích, đánh giá.
Thứ nhất, việc tăng trưởng tín dụng mạnh sẽ tạo áp lực lạm phát trong cuối năm và đầu năm tới, với độ trễ từ 3 đến 6 tháng.
Thứ hai, nếu dòng vốn không được kiểm soát chặt chẽ, có thể sẽ đi vào các lĩnh vực kém hiệu quả, gây rủi ro tăng nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, hiện nay các ngân hàng đang đẩy mạnh việc huy động vốn, một mặt để đáp ứng mức tăng trưởng tín dụng đã đề ra, mặt khác là để đáp ứng thông tư 06. Theo đó, vô hình chung điều này đang đẩy lãi suất đầu vào cao hơn, như thế rất khó giảm lãi suất đầu ra, trong bối cảnh nợ xấu của ngân hàng vẫn lớn trong khi NIM lại ở mức tương đối thấp.
Trần Thúy
