Luật sư nêu ba luận cứ bào chữa cho ông Trầm Bê không phạm tội “cố ý làm trái”


“Kính đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Trầm Bê không phạm tội Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với vai trò đồng phạm giúp sức với bị cáo Danh”, luật sư Hồng nêu ở phần tranh tụng.

Phiên xử chiều 24/1, HĐXX vụ án Phạm Công Danh giai đoạn 2 tiếp tục làm việc với phần tranh tụng của luật sư bào chữa cho bị cáo Trầm Bê.

Theo đó luật sư Nguyễn Thị Mai Hồng, bào chữa cho bị cáo Trầm Bê tham gia tranh tụng và nêu 3 vấn đề mặt chủ quan, khách quan, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và thiệt hại xảy ra.

Thứ nhất về mặt chủ quan, bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu cùng ý thức của đồng phạm theo Điều 17 BLHS 2015 và điều 20 BLHS 1999 quy định về hình thức phạm tội đồng phạm “đồng phạm là trường hợp có 2 người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Theo quy định của điều luật này yếu tố chủ quan của đồng phạm là sự cùng cố ý của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm mà cụ thể về mặt nhận thức mỗi người đồng phạm biết người khác có hành vi vi phạm pháp luật và cũng biết hành vi của mình là vi phạm cùng người đó.

Lập luận của cáo trạng là không đủ chứng minh bị cáo Trầm Bê đồng phạm với bị cáo Danh. Giữa cáo trạng và kết luận điều tra bổ sung nhận định về vấn đề này cũng không thống nhất. Cụ thể trang 4 kết luận bổ sung nêu rõ khoảng giữa tháng 4/2013, Danh đến trụ sở của Sacombank gặp bị cáo Trầm Bê đặt vấn đề vay khoảng 2000 tỷ. Trầm Bê đồng ý cho Danh vay nhưng phải có tài sản đảm bảo là tiền gửi hoặc bất động sản. Sau đó, Trầm Bê dẫn Danh xuống phòng làm việc của Phan Huy Khang, nguyên Tổng giám đốc Sacombank.

Nếu hiểu theo cáo trạng nêu ở trên thì bị cáo Trầm Bê là người chủ động liên lạc với bị cáo Danh để đặt vấn đề cho bị cáo Danh vay tiền. Quy kết này của cáo trạng không đúng với bản chất sự việc trái với kết luận điều tra, trái với lời khai của các đương sự trong vụ án và gây bất lợi cho ông Trầm Bê.

Cáo trạng sử dụng từ “bàn bạc” trong bối cảnh xác định ông Danh vi phạm Điều 126 Luật các TCTD như thể bị cáo Trầm Bê bàn mưu tính kế cùng ông Danh đối phó với pháp luật, gây hiểu lầm cho bị cáo Trầm Bê.

Bị cáo Trầm Bê xác định cho khách hàng vay là các công ty do Danh giới thiệu mà không phải cá nhân ông Danh vay. Thẩm vấn công khai tại tòa ngày 11/1 đã chỉ rõ, cụ thể Trầm Bê, Phan Huy Khang, Phạm Công Danh, Phan Thành Mai. Tuy cáo trạng xác định như vậy nhưng trong phần luận tội VKS ghi nhận ý kiến của các bị cáo về việc này tức Sacombank cho các công ty vay tiền chứ không phải cho cá nhân ông Danh vay.

Việc bị cáo Trầm Bê quen biết bị cáo Danh không phải là căn cứ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật. Về vấn đề này cáo trạng nêu ông Trầm Bê, Khang có quen biết với Danh và biết ông Danh là Chủ tịch VNCB. Việc quen biết không thể là vấn đề quyết định các bị cáo hay người liên quan có vi phạm pháp luật hay không. Vấn đề quyết định việc phạm tội của các bị cáo nằm ở chỗ các bị cáo biết ông Danh vi phạm pháp luật mà các bị cáo vẫn giải quyết cho vay.

Không lẽ bất cứ ai quen biết ông Danh mà làm thủ tục cho các công ty hoặc cho cá nhân ông Danh vay tiền đều là phạm pháp? Luật sư nêu tại tòa.

Cáo trạng cho rằng Trầm Bê và Danh có mối quan hệ từ trước, biết Danh là Chủ tịch VNCB không vay được tiền tại VNCB nên ông Trầm Bê đồng ý cho ông Danh vay tiền. Cách đặt vấn đề này có tính áp đặt ngay từ đầu rằng có sự cấu kết vi phạm pháp luật của các bị cáo trong khi đó việc cấu kết phải được các cơ quan tố tụng tiến hành chứng minh cụ thể chứ không thể dùng lối dẫn dắt sự kiện một cách chủ quan duy ý chí như vậy.

Bị cáo Trầm Bê đã khẳng định rằng việc lãnh đạo ngân hàng giới thiệu khách hàng sang ngân hàng khác vay tiền là bình thường. Điều quan trọng là khách hàng phải đáp ứng đủ 5 điều kiện về cho vay theo Quyết định 1627. Ở đây chỉ là việc truyền đạt chủ trương cho vay theo phân cấp của Sacombank, ông Trầm Bê truyền đạt chủ trương, ông Khang thấy đúng thì triển khai chứ ông Trầm Bê không áp đặt bắt buộc cho ông Danh vay bằng mọi giá. Đây cũng là nội dung bị cáo Khang khai tại tòa sáng 11/1.

Với các tình tiết trên, bị cáo Trầm Bê không trực tiếp triển khai hồ sơ cho vay mà chỉ phê duyệt hồ sơ do cấp dưới thẩm tra xong trình lên giống như 2 thành viên của HĐTD còn lại. Bị cáo Trầm Bê không hề biết mục đích vay tiền thực sự của 6 công ty. Vấn đề này được làm rõ tại tòa, bị cáo Danh xác nhận trước HĐXX rằng bị cáo Danh chỉ trình bày cho ông Trầm Bê biết việc các công ty đang có nhu cầu vay tiền kinh doanh vật liệu xây dựng và ông Danh nghĩ phía ông Trầm Bê không biết bản chất việc các công ty vay tiền. Như vậy, không có căn cứ chứng tỏ bị cáo Trầm Bê biết bản chất mục đích các công ty vay tiền.

Việc Sacombank nhận tài sản bảo đảm là tiền gửi của VNCB cho 6 công ty vay vốn là hợp pháp nên không có căn cứ nghi ngờ mục đích vay vốn của 6 công ty. Điều này thể hiện rõ trong kết luận giám định của NHNN.

Như vậy vào tháng 4/2013 và trong suốt quá trình cho 6 công ty vay vốn bị cáo Trầm Bê không hề biết bị cáo Danh có hành vi nguy hiểm cho xã hội, cụ thể là sử dụng 6 công ty vay vốn cho mình, ngược lại hành vi của Trầm Bê trong việc đồng ý chủ trương cho 6 công ty vay vốn, ký duyệt tờ trình cho 6 công ty vay là phù hợp với pháp luật, cụ thể là Luật các TCTD và Quyết định 1627. Trong toàn bộ sự việc này, bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu cùng biết mặt chủ quan của đồng phạm. Vì vậy không thể xác định bị cáo là đồng phạm với Danh.

Thứ hai xét về hành vi khách quan, bị cáo Trầm Bê không cùng vi phạm pháp luật với hành vi của bị cáo Danh như cáo trạng nêu. Trang 91 cáo trạng xác định bị cáo Danh vi phạm quy định TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được thực hiện các hoạt động gửi tiền, nhận tiền gửi trừ tiền gửi thanh toán và các giao dịch gửi tiền, nhận tiền gửi có kỳ hạn tối đa 3 tháng tại TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác kể từ ngày thông tư này có hiệu lực. Việc VNCB gửi tiền sang Sacombank đã nhắc trong hồ sơ vụ án và việc gửi tiền đã có kết luận giám định việc gửi tiền là được phép thực hiện. Nên bị cáo Trầm Bê không có đồng phạm với bị cáo Danh trong việc cố ý làm trái quy định này.

Kết luận của cáo trạng nêu việc cấp bảo lãnh cho các công ty của Danh vay tiền nhưng không có tài sản bảo đảm là vi phạm quy định của Nghị định 163 và Thông tư 28. Tôi xin nêu cụ thể Điều 16 bảo đảm cho nghĩa vụ bên bảo lãnh, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với bên được bảo lãnh thỏa thuận việc áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm.

Với quy định này nhận định của VKS như trong cáo trạng là không có căn cứ khi cho rằng việc cấp bảo lãnh cho các công ty vay tiền nhưng không có tài sản bảo đảm là vi phạm các quy định của Nghị định số 163 và Thông tư 28. Do đó, việc cấp bảo lãnh của VNCB là hợp pháp. Ngược lại, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được vi phạm trong việc cấp bảo lãnh của VNCB thì đây là vi phạm riêng của VNCB không liên quan tới ông Trầm Bê. Pháp luật cũng không quy định ông Trầm Bê kiểm tra xác minh trong trường hợp này.

Với cáo buộc vi phạm Nghị định 163 và Thông tư 28 VKS không xác định điều luật vi phạm nên không chứng minh được hành vi thuộc yếu tố khách quan cũng như pháp luật không buộc khách hàng phải có tài sản bảo đảm khi ngân hàng cấp bảo lãnh. Vì vậy, VKS quy kết bị cáo Trầm Bê đồng phạm với bị cáo Danh trong trường hợp này là không có căn cứ.

Thứ ba không có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm do bị cáo Danh thực hiện và bị cáo Trầm Bê bị quy kết đồng phạm. Việc Sacombank nhận bảo lãnh bằng tiền gửi của VNCB là hợp pháp và ngân hàng VNCB thiệt hại 1.800 tỷ là từ hoạt động bảo lãnh cho 6 công ty mà nguyên nhân trực tiếp là ngân  hàng này bảo lãnh nhưng không có tài sản bảo đảm của 6 công ty.

Do đó cho dù bị cáo Danh vi phạm khoản 1 Điều 165 Luật các TCTD thì hành vi này cũng không phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại của VNCB, thiệt hại đến từ bị cáo Danh vi phạm các quy định khác mà các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh trong trường hợp này là tội cố ý làm trái, với hành vi cụ thể là xâm hại khoản 1 điều 126 Luật các TCTD đã không xảy ra. Vì vậy bị cáo Trầm Bê không thể phạm tội có ý làm trái với vai trò đồng phạm với bị cáo Danh.

Những căn cứ và quy định pháp luật trình bày ở trên chứng minh bị cáo Trầm Bê không có dấu hiệu cố ý thực hiện hành vi vi phạm với bị cáo Danh nên không thể là đồng phạm trong vụ án. Bên cạnh đó về mặt khách quan không có quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm khoản 1 điều 126 Luật các TCTD 2010 với số tiền 1.800 tỷ thiệt hại của VNCB. Vì vậy tội phạm không xảy ra trong trường hợp này. Việc VNCB thiệt hại số tiền 1.800 tỷ đến từ hoạt động khác là hoạt động bảo lãnh ngân hàng, hoàn toàn không liên quan tới bị cáo Trầm Bê cũng như Sacombank.

“Kính đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Trầm Bê không phạm tội Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với vai trò đồng phạm giúp sức với bị cáo Danh”, luật sư Hồng kết thúc phần tranh tụng.

Huyền Trâm