Luật sư: “Có 7 nghịch lý nếu không loại trừ 4.500 tỷ ra khỏi con số thiệt hại hơn 6.126 tỷ”


Nếu không loại trừ số tiền 4.500 tỷ đồng ra khỏi số liệu thiệt hại hơn 6.126 tỷ đồng, sẽ có 7 nghịch lý bất cập pháp lý nghiêm trọng tồn tại trong vụ án này. Luật sư Trần Minh Hải nêu trong phần tranh tụng phiên 22/1.

Với mong muốn góp phần làm rõ các khía cạnh xác đáng trong đánh giá và suy luận hợp lý về mức độ sai phạm cũng như mức độ hậu quả thiệt hại của vụ án, luật sư Trần Minh Hải, bào chữa cho bị cáo Phạm Công Danh trình bày 4 vấn đề mong HĐXX xem xét:

Các giao dịch tiền gửi giữa VNCB với ngân hàng BIDV, Sacombank, Tienphongbank không sai phạm pháp luật như nội dung quy kết trong Cáo trạng của Viện Kiểm sát;

Pháp luật không bắt buộc cứ cấp tín dụng, thì phải có tài sản bảo đảm như Cáo trạng nêu sai phạm đối với ông Phạm Công Danh;

Cần phải bác bỏ quan điểm xác định thiệt hại từ lãi suất cho vay dự kiến vì không phù hợp với thực tiễn kinh doanh ngân hàng và pháp luật về ngân hàng;

Nếu không loại trừ ngay số tiền 4.500 tỷ đồng ra khỏi số liệu thiệt hại hơn 6.126 tỷ đồng, sẽ có 7 nghịch lý bất cập pháp lý nghiêm trọng tồn tại trong vụ án này.

Trong đó vấn đề thứ 4 luật sư nhấn mạnh quan trọng nhất bởi nó liên quan con số thiệt hại của vụ án. Dưới đây là phần tranh tụng của luật sư Hải về vấn đề thứ 4.

Luật sư Hải cho rằng, nguồn gốc số tiền 4.500 tỷ thì quá rõ ràng, tiền từ 22 cá nhân nộp mua cổ phần tăng vốn điều lệ khi VNCB dự kiến tăng vốn từ 3.000 tỷ đồng lên 7.500 tỷ đồng. Sau đó số tiền này đã không được tăng vốn thế nên vẫn mắc lại ở VNCB.

Sau khi không tăng vốn được, rất nhiều ý kiến quan điểm thoái thác việc hoàn trả lại tiền cho các cá nhân cũng như khấu trừ vào thiệt hại của vụ án này.

Tổng hợp các quan điểm từ cáo trạng, trình bày của Ngân hàng Xây Dựng cũng như phần luận tội của VKS vừa qua, gồm các lý do như khoản tiền này thuộc giai đoạn trước khi VNCB bị NHNN mua lại với giá 0 đồng, nay số liệu này không thể bóc tách.

CB hiện nay không theo dõi số liệu này nữa, hay là số tiền 4.500 tỷ này không thể trả lại vì có nguồn gốc bất hợp pháp, hay là số tiền này không thể trả lại do các bị cáo Phạm Công Danh và các bị cáo sử dụng hết, hay là vốn chủ sở hữu tại thời điểm các bị cáo bị khởi tố thì đã âm vốn chủ sở hữu rồi thế nên khoản tiền này cũng không còn.

Luật sư Hải đề nghị HĐXX bác bỏ toàn bộ quan điểm lập luận trên. Bởi theo luật sư nếu như chấp nhận những quan điểm này thì có 7 nghịch lý trong vụ án sẽ tồn tại.

Nghịch lý thứ nhất, đó là từ vụ án này một đặc điểm pháp lý mới của tiền tệ được phát hiện đó là hòa chung sau đó sẽ hòa tan

Bởi quan điểm của đại diện Ngân hàng Xây dựng, khoản tiền 4.500 tỷ đồng này đã được hòa chung vào nguồn vốn của VNCB, sau đó thì ngân hàng không theo dõi nữa.

Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính thực hiện chức năng huy động vốn và cho vay. Mọi nguồn tiền sau khi ngân hàng huy động thì nguồn tiền nào chẳng hòa chung, có bao giờ tiền gửi tại ngân hàng xong ngân hàng cuốn gói niêm phong?

Khoản 4.500 tỷ được nộp vào VNCB hòa chung nguồn vốn là điều rất bình thường nhưng bây giờ CB cho rằng không có số liệu theo dõi không bóc tách được như quan điểm của VKS trong phần luận tội là điều rất bất bình thường.

Xin hỏi nếu chúng ta thừa nhận điều này thì sẽ này sinh nghịch lý là mai này liệu cổ đông nào của giới ngân hàng dám nộp tiền tăng vốn nữa không?

Vì chẳng may vốn điều lệ không tăng được thì tiền đó hòa chung sau đó hòa tan luôn.

Rồi tiền gửi của dân cư và nhiều khoản tiền nữa ở lĩnh vực ngân hàng điều này không cho phép tồn tại.

Do vậy đề nghị HĐXX cân nhắc không để tạo nên một nghịch lý bất cập này.

Có một nghịch lý đáng xem xét hơn đang tồn tại, đó là nghịch lý chúng ta thừa nhận việc ngân hàng được quyền tiếp nhận, khai thác, sử dụng, làm lợi từ nguồn tiền bất hợp pháp

Bởi vì trong quá trình thẩm vấn công khai của HĐXX tại phiên tòa này, có một vấn đề được nêu lên với nội dung: Ngân hàng CB không phải hoàn trả lại khoản tiền 4.500 tỷ đồng vì tiền này có nguồn gốc bất hợp pháp. Nếu vấn đề này được thừa nhận, sẽ tạo nên một chuỗi mâu thuẫn pháp lý khó lý giải.

Bất hợp pháp hay không thì trước tiên phải khẳng định khoản tiền này không thuộc về Ngân hàng Xây Dựng. Nếu trong điều kiện bình thường mà không bất hợp pháp thì khoản tiền này rõ ràng đó là tiền của 22 cá nhân nộp vào mua cổ phần trong đợt tăng vốn điều lệ ngân hàng.

Vốn điều lệ không tăng được thì đương nhiên phải trả lại người góp. Nếu trong trường hợp bất hợp pháp thì lại càng phải trả lại. Một mặt chúng ta thừa nhận tiền bất hợp pháp một mặt chúng ta thừa nhận Ngân hàng CB được quyền giữ, khai thác, sử dụng và nhiều thông tin cho rằng ngân hàng này đã khai thác sử dụng thế thì hóa ra chúng ta thừa nhận ngân hàng được quyền giữ, sử dụng, hưởng lợi từ nguồn tiền bất hợp pháp? Điều này pháp luật không thể chấp nhận được.

Từ khi có nguồn 4.500 tỷ có một sự thực hiển nhiên là chưa bao giờ khoản tiền này nằm trong túi của ông Danh hay các bị cáo khác mà luôn nằm trong túi tiền của Ngân hàng Xây Dựng.

4 năm qua số tiền này nằm ở Ngân hàng Xây Dựng, đã sử dụng, khai thác nó thế thì nếu chúng ta chấp nhận quan điểm thoái thác hoàn trả khoản tiền 4.500 tỷ vì nó bất hợp pháp thì sẽ tạo một nghịch lý thừa nhận việc Ngân hàng Xây Dựng được giữ lại, sử dụng, khai thác khoản tiền bất hợp pháp này.

Điều này hoàn toàn trái với chủ trương chính sách pháp luật trong phòng chống rửa tiền mà ngành ngân hàng đã xây dựng bấy lâu nay. Do vậy tôi mong HĐXX xem xét kỹ lưỡng nghịch lý này.

Nghịch lý thứ ba, cứ động đến tiền của ngân hàng sẽ có nguy cơ bị coi là tiêu tiền với tư cách cá nhân

Trong phần luận tội của VKS khoản tiền 4.500 tỷ các bị cáo đã tiêu hết. 4.500 tỷ sau khi hòa vào ngân hàng ai là người tiêu? Tôi khẳng định 100% đó chính là Ngân hàng Xây dựng.

Trong hồ sơ vụ án có tài liệu quan trọng là Biên bản xác minh và thu thập tài liệu ngày 9/6/2015 giữa đại diện cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an với đại điện Ngân hàng TM TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (BL 12621 đến 12623).

Theo nội dung biên bản này: Trong giai đoạn từ 14/2/2014 đến 26/7/2014 Ngân hàng Xây Dựng đã sử dụng 7.614,75 tỷ đồng (trong đó có bao gồm cả số tiền 4.500 tỷ đồng gửi lại Liên Việt Postbank chuyển về SGD NHNN để sử dụng: ngày 14/2/2014 chuyển về 1.500 tỷ đồng; ngày 17/2/2014 chuyển về 1.000 tỷ đồng; ngày ……….. chuyển về 2.000 tỷ đồng) cho các mục đích kinh doanh gồm tăng dư nợ cho vay khách hàng 1.851,30 tỷ đồng, tăng các khoản phải thu 2.931,76 tỷ đồng, trả nợ vay NHNN 440 tỷ đồng, trả tiền gửi/ tiền vay cho các TCTD khác 1.351,38 tỷ đồng, trả tiền gửi khách hàng 121,55 tỷ đồng, lỗ hoạt động kinh doanh phát sinh trong kỳ 809,31 tỷ đồng và các khoản khác 109,46 tỷ đồng.

Nhìn vào những thông tin kê khai nêu trên, cho thấy toàn bộ  giao dịch sử dụng khoản tiền 4.500 tỷ đồng đều là các hoạt động kinh doanh của chính Ngân hàng Xây dựng. Đó không phải là các hoạt động của cá nhân ông Phạm Công Danh hay các bị cáo khác trong vụ án.

Tại Biên bản xác minh và thu thập tài liệu ngày 9/6/2015 ghi nhận rõ hơn 809 tỷ đồng trong số tiền 4.500 tỷ đồng đã được sử dụng vào việc bù lỗ trong hoạt động kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh đó của ai, chính biên bản đã ghi nhận cụ thể là “lỗ do hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Xây dựng gồm trả lãi tiền gửi, lương nhân viên, chi phí hoạt động khác..”.

Đó là những khoản lỗ của Ngân hàng Xây dựng chứ không phải khoản lỗ của ông Phạm Công Danh.

Theo đó luật sư Hải cho rằng, nếu kết luận ông Phạm Công Danh cùng các bị cáo sử dụng và tiêu hết khoản tiền 4.500 tỷ đồng, thì một nghịch lý pháp lý khác sẽ tồn tại:

Ai cứ động đến tiền của ngân hàng thì cho dù sử dụng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vì lợi ích của ngân hàng sẽ bị coi là sử dụng, tiêu tiền với tư cách cá nhân.

Liệu từ ngày mai, các vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc ngân hàng, các nhân sự trong các Hội đồng và các cấp kinh doanh của các ngân hàng có dám giơ tay thông qua một giao dịch sử dụng tiền của ngân hàng?

Tôi tin chắc là nghịch lý này sẽ tạo nên nỗi sợ hãi trên hệ thống ngân hàng.

Nghịch lý thứ 4 – Hết tiền thì không cần trả nợ

Một trong các quan điểm được đưa ra để thoái thác việc hoàn trả, khấu trừ số tiền 4.500 tỷ đồng vào thiệt hại của vụ án đó là: Vào thời điểm ông Phạm Công Danh và các bị cáo khác bị khởi tố bị can, tạm giam, thì VNCB đã bị âm vốn chủ sở hữu. Cho nên khoản tiền 4.500 tỷ đồng cũng không còn nữa để trả. Quan điểm này có đúng không?

Luật sư cho rằng 4.500 tỷ hoặc là nằm trong vốn chủ sở hữu hoặc là nằm trong tổng nợ phải trả không thể nằm ở chỗ khác, nếu không sẽ tạo nên lịch sử vô tiền khoáng hậu kế toán trong ngành ngân hàng.

Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng, việc tăng vốn điều lệ phải có sự chấp thuận và có quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép của NHNN mới có hiệu lực pháp luật.

Hồ sơ vụ án thể hiện, trường hợp tăng vốn tại VNCB không hề có quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép của NHNN. Hệ quả là về pháp lý và thực tiễn, VNCB không tăng được vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng lên 7.500 tỷ đồng. Trong Quyết định số 249/QĐ-NHNN ngày 5/3/2015 của Thống đốc NHNN (BL 15413) cũng xác định rõ vốn điều lệ tại thời điểm VNCB bị mua với giá 0 đồng chỉ là 3.000 tỷ đồng. 

Đã không nằm trong vốn chủ sở hữu nên khoản tiền 4.500 tỷ đồng phải nằm trong Tổng nợ phải trả của Ngân hàng Xây dựng.

Từ cơ sở pháp lý đã chứng minh nêu trên, cần bác bỏ quan điểm phi lý cho rằng VNCB bị âm vốn chủ sở hữu, thì không phải hoàn trả khoản tiền 4.500 tỷ đồng cho những người nộp tiền mua cổ phần.

Quan điểm này diễn giải đơn giản không khác gì việc cho rằng, người vay tiền nếu hết tiền, thì không cần trả nợ vay.

Không thể để nghịch lý bất cập này tồn tại. Bởi đó là khoản nợ và khi chưa có bất kỳ giao dịch trả nợ nào được hạch toán, thì Ngân hàng Xây dựng vẫn phải trả.

Nghịch lý thứ năm, cứ thay tên đổi họ, đổi chủ pháp nhân là thoát mọi trách nhiệm tài chính

Ngân hàng Xây dựng hiện có quan điểm cho rằng, khoản tiền 4.500 tỷ đồng thuộc về thời điểm trước khi VNCB được NHNN mua lại với giá 0 đồng. Do vậy, đến nay Ngân hàng CB không có nghĩa vụ phải hoàn trả khoản tiền 4.500 tỷ đồng cho những người nộp tiền.

Ngân hàng CB vốn được chuyển đổi từ Ngân hàng VNCB. VNCB vốn được đổi tên từ Ngân hàng Đại Tín, Ngân hàng Đại Tín vốn được đổi tên từ Ngân hàng Rạch Kiến. Trước pháp luật, thì Ngân hàng CB, Ngân hàng VNCB, Ngân hàng Đại Tín, hay Ngân hàng Rạch Kiến cũng chỉ là một pháp nhân, hoạt động trên cơ sở Giấy phép hoạt động ngân hàng số 047/NH-GP đã được Thống đốc NHNN cấp cho ngân hàng này từ ngày 29/12/1993, sau đó sửa đổi nhiều lần.

Trước pháp luật thì việc Ngân hàng CB được hình thành từ việc NHNN mua lại với giá 0 đồng, chỉ là sự thay tên, đổi chủ. Pháp luật quy định dẫu cho thay tên, đổi chủ cũng không hề thay trách nhiệm, bỏ trách nhiệm.

Do vậy, trừ khi đã phá sản, giải thể, pháp nhân Ngân hàng CB vẫn có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ các khoản nợ cho những người nộp tiền, gửi tiền tại ngân hàng này, trong đó có khoản nợ 4.500 tỷ đồng.

Nghịch lý thứ 6, nếu khoản tiền 4.500 tỷ đồng không được khấu trừ ngay vào thiệt hại của vụ án, có nguy cơ Nhà nước sẽ gánh chịu tổn hại thêm hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai.

Tại sao tôi nói vậy, bởi có 2 căn cứ pháp lý rất rõ ràng cho thấy nguy cơ rủi ro này.

Thứ nhất, một khi không tăng vốn điều lệ được, thì Ngân hàng Xây dựng đã phát sinh nghĩa vụ trả khoản tiền 4.500 tỷ đồng cho những người nộp tiền mua cổ phần.

Nếu muốn để Ngân hàng Xây dựng giữ lại khoản tiền này, thì phải khấu trừ 4.500 tỷ đồng ra khỏi thiệt hại của vụ án. Nếu không loại trừ ra khỏi thiệt hại của vụ án, thì số tiền này vẫn thuộc về những người nộp tiền mua cổ phần như cơ sở pháp lý được làm rõ qua các luận điểm trình bày ở trên. Thời điểm Ngân hàng Xây dựng phải trả lại khoản tiền 4.500 tỷ đồng chính là thời điểm việc tăng vốn điều lệ không thực hiện được.

Thứ hai, nghĩa vụ trả tiền đã phát sinh cho nên trong trường hợp Ngân hàng Xây dựng chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền này này, thì phải trả lãi suất phát sinh do chậm trả tiền. Với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với mỗi năm Ngân hàng Xây dựng phải trả lãi 450 tỷ đồng. Chỉ tính riêng trong 4 năm qua, số tiền lãi mà Ngân hàng Xây dựng phải hoàn trả cho những người nộp tiền đã lên đến 1.800 tỷ đồng. Càng kéo dài, số tiền này sẽ càng lớn.

Nếu không khấu trừ ngay số tiền 4.500 tỷ đồng vào thiệt hại của vụ án, số tiền này sẽ vẫn thuộc về các cá nhân nộp tiền mua cổ phần. Cần lưu ý các cá nhân này sẽ được quyền khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với số tiền 4.500 tỷ đồng vào một thời điểm bất kỳ trong tương lai. Bởi theo Điều 155 Bộ luật Dân sự, thời hiệu khởi kiện sẽ không áp dụng trong trường hợp này.

Khi đó, ai sẽ chịu trách nhiệm trước thiệt hại lãi suất mà Nhà nước sẽ gánh chịu bởi Ngân hàng CB hiện nay 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của Nhà nước?

Nghịch lý thứ 7 – Bản chất mức độ thiệt hại của vụ án này không được làm rõ chỉ vì một phép toán đơn giản chưa ai giải

Từ 6 nghịch lý nêu trên đã tạo thành một đại nghịch lý. Đó là bản chất hậu quả thiệt hại của vụ án đã không được làm rõ chỉ bởi một phép toán vô cùng đơn giản mà chưa ai giải.

Trong vụ án có 2 con số trọng tâm: con số 6.126 tỷ đồng là số tiền thiệt hại từ việc Ngân hàng Xây dựng bị khấu trừ tiền gửi do bảo lãnh vay vốn; con số 4.500 tỷ đồng là số tiền từ việc vay vốn trên cơ sở bảo lãnh bằng tiền gửi của Ngân hàng Xây dựng.

Ngân hàng Xây dựng đã bị khấu trừ 6.126 tỷ đồng tiền gửi do bảo lãnh vay vốn, Ngân hàng Xây dựng cũng đã thu về ngày 4.500 tỷ đồng tiền từ khoản vay được mình bảo lãnh vay vốn. Rõ ràng thiệt hại thực sự của vụ án là kết quả của phép toán trừ: Lấy con số 6.126 tỷ đồng trừ đi con số 4.500 tỷ đồng.

Mặc dù chỉ cần kỹ năng giải toán của học sinh cấp 1 để giải phép toán trừ này, nhưng đến nay chúng ta vẫn phải đang… chờ kết quả.

Hơn 4 năm qua, Ngân hàng Xây dựng đã không giải được bài toán và tại phiên tòa này họ xác nhận vẫn phải chờ NHNN có ý kiến. Vậy thì tại phiên tòa này, tôi rất mong HĐXX xử sẽ giải được phép toán này để làm sáng tỏ bản chất hậu quả thực sự của vụ án.

“Tôi nhận thấy rằng ông Phạm Công Danh đã mất đi tất cả khi tham gia vào lĩnh vực ngân hàng. Công cuộc tham gia giải cứu Ngân hàng Đại Tín yếu kém đã lấy đi của ông Phạm Công Danh gần như toàn bộ tài sản của Tập đoàn Thiên Thanh, hầu hết tiền bạc và tài sản cá nhân của gia đình và điều quan trọng nhất – sự tự do. Tôi chỉ mong rằng với những gì tôi đã trình bày, HĐXX sẽ trả lại cho ông Phạm Công Danh một điều duy nhất đó là phán quyết công bằng”, luật sư Hải kết thúc phần tranh tụng tại tòa.

Huyền Trâm