“Thẻ vàng” cho thủy sản Việt vào Mỹ


Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa, Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản vào Mỹ (SIMP) sẽ bắt đầu có hiệu lực. Thêm một rào cản nữa, doanh nghiệp thủy sản Việt Nam sẽ phải lựa chọn, hoặc bắt buộc nâng cao quy trình và tuân thủ đúng luật chơi của nước bạn, hoặc sẽ chính thức gửi “lời chào tạm biệt” đến thị trường tiềm năng này.

Theo Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA), Mỹ sẽ tăng cường giám sát việc khai thác và nhập khẩu đối với 13 loài thủy hải sản. Đó là cá hồng, hải sâm, cá mập, cá kiếm, cá ngừ, cá mú, cá nục, cua, tôm, bào ngư, cá tuyết nhập khẩu vào nước này. Đây là các loài hải sản ưu tiên của SIMP nhằm chống lại các hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) và gian lận thương mại thủy sản.

Rào cản mới cho ngành thủy sản

Chương trình SIMP đã tạo tranh cãi trong nội bộ nước Mỹ. Ông Beth Lowell, Giám đốc cấp cao về đánh bắt hải sản bất hợp pháp và gian lận thương mại thủy sản của Tập đoàn Oceana cho biết, SIMP vẫn là một gánh nặng lớn đối với các Cty Mỹ- đối tượng sẽ phải gánh chịu chi phí, trong đó có 53 triệu USD cho việc lưu trữ dữ liệu. “Viện Thủy sản Quốc gia (NFI) luôn hỗ trợ các cơ quan chính phủ chống lại việc đánh bắt bất hợp pháp. Những quy định bổ sung này theo SIMP sẽ không làm giảm đánh bắt IUU, mà thay vào đó, SIMP sẽ làm tăng giá thực phẩm và giảm đi các lựa chọn hải sản cho các gia đình Mỹ”, ông Lowell cho biết

Ngược lại, ông Carter Roberts, chuyên gia của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên hoan nghênh phán quyết về việc ngăn chặn 2 tỷ USD hải sản bất hợp pháp mỗi năm. “Quy định này mới chỉ áp dụng cho một số loài hải sản có nguy cơ cao, chiếm khoảng 25% lượng nhập khẩu bất hợp pháp”, ông Carter Roberts nhấn mạnh.

Cũng theo chuyên gia này, các ngư dân và các nhà sản xuất thủy sản nội địa Mỹ cho rằng, đây là một chiến thắng to lớn đối với họ. Phán quyết này sẽ bắt buộc hải sản nhập khẩu phải theo những tiêu chuẩn tương tự như hải sản đánh bắt trong nước và cân bằng sân chơi cho ngư dân Mỹ. Đồng thời giảm thiểu những rủi ro mà người tiêu dùng Mỹ phải đối mặt. “Tất cả hải sản bán ở Mỹ phải an toàn, đánh bắt hợp pháp và dán nhãn một cách trung thực”, ông Carter nói.
 Chương trình SIMP mới chỉ áp dụng cho một số loài hải sản có nguy cơ cao, chiếm khoảng 25% lượng nhập khẩu bất hợp pháp.

Tập đoàn Mehta ước tính hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng 90% lượng hải sản – trị giá khoảng 10 tỷ USD (8,3 tỷ EUR), và phần lớn có nguồn gốc từ các vùng nước cách xa Mỹ hoặc đánh bắt trong nước nhưng đi qua một chuỗi chế biến và phân phối nước ngoài.

Như vậy, quy định mới này đã gửi một thông điệp quan trọng cho cộng đồng thủy sản quốc tế rằng, nếu bạn công khai và minh bạch về hải sản đánh bắt và buôn bán qua chuỗi cung ứng, thì thị trường Mỹ sẽ mở cửa cho doanh nghiệp của các nước. Quy định này cũng sẽ xây dựng trên những nỗ lực tương tự trên toàn cầu và sẽ mang lại niềm tin cho người tiêu dùng về hải sản mà họ tiêu thụ, đồng thời cân bằng sân chơi cho những ngư dân trung thực trên toàn cầu.

Cơ hội để đột phá

Không chỉ có nền kinh tế lớn nhất thế giới áp dụng những quy định kiểm soát chặt chẽ về nguồn cung thủy sản, Liên minh châu ÂU (EU) cũng đã có những khuyến nghị về việc đánh bắt IUU với các quốc gia xuất khẩu thủy sản, cụ thể là với Việt Nam.

Đây là hai thị trường rất lớn và có truyền thống xuất khẩu lâu năm của Việt Nam với trị giá hàng hóa đạt khoảng 1,5 tỉ USD, riêng các mặt hàng hải sản là 350-400 triệu USD. Do vậy, nếu không tuân thủ đúng quy định, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị tước mất cơ hội đầu tư vào các thị trường lớn này.

Ông Nguyễn Hữu Dũng, Giám đốc CTy TNHH Dịch Vụ Và Tư Vấn Thủy Sản Quốc Tế VSP nhận định, việc cả Mỹ và EU đều đưa ra những cảnh báo với nguồn cung thủy sản cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nên nghiêm túc hơn trong việc thực thi những quy định quốc tế.

“Thời gian qua, không thiếu một số doanh nghiệp như “con sâu làm rầu nồi canh”, vi phạm các quy định của Mỹ dẫn đến việc chính quyền Mỹ lợi dụng điều này và áp đặt quy định lên các lô hàng của Việt Nam; đồng thời, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Việc này sẽ làm ảnh hưởng tới thời gian giao hàng của các doanh nghiệp, đồng thời làm chi phí lưu kho bãi của doanh nghiệp tăng lên. Như thế doanh nghiệp vừa mất thời gian giao dịch, tăng chi phí, và tăng khả năng các lô hàng sẽ bị trả về nếu bị phát hiện có sai phạm”, ông Dũng cho biết.

Cũng theo chuyên gia này, mặc dù các chính sách này không chỉ áp dụng cho Việt Nam mà còn nhiều nước khác trên thế giới, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam không nên lo lắng trước quy định này và tận dụng nó như một bước đệm để có thể vươn lên và tạo vị thế tại các thị trường lớn. “Đã đến lúc Việt Nam cần cải thiện chất lượng sản phẩm ngay từ khâu đánh bắt để giành lại niềm tin từ các thị trường khó tính như Mỹ và EU. Và để hỗ trợ các DN đáp ứng kịp thời với các quy định mới, Chính phủ và các Bộ, ngành cũng cần có những hành động quyết liệt và kịp thời để các nước trên thế giới thấy rằng Việt Nam không dung túng, làm ngơ cho khai thác IUU”, ông Dũng nhấn mạnh.

Cẩm Anh