Trong những năm gần đây, chiến lược “Trung Quốc+1” đã trở thành một thuật ngữ khá phổ biến trong giới kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất. Chiến lược này ra đời trong bối cảnh các công ty đa quốc gia có cơ sở sản xuất đặt tại Trung Quốc chuyển sang xu hướng tìm kiếm và dịch chuyển sản xuất tới những quốc gia khác như một chiến lược thay thế hoặc dự phòng. Mục đích chính là nhằm đa dạng hoá hoạt động và tránh những rủi ro gây ra bởi sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng, cũng như hạn chế sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
Chiến lược Trung Quốc +1 hình thành xuất phát từ thực tế chi phí nhân công ở Trung Quốc ngày càng tăng cao cũng như những mâu thuẫn kinh tế chính trị đầy biến động giữa hai cường quốc Trung – Mỹ. Hơn nữa, tình trạng diễn biến phức tạp và kéo dài của đại dịch COVID-19 kéo theo tình trạng giãn cách xã hội kéo dài, đặc biệt kể từ khi Trung Quốc đẩy mạnh chiến dịch Zero-COVID, cũng gây ra sự tắc nghẽn và nhiều trở ngại cho hoạt động sản xuất và kinh doanh tại nước này.
Trong bối cảnh này, Đông Nam Á, đặc biệt các quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, trở thành những lựa chọn thay thế hàng đầu cho Trung Quốc bởi lợi thế về vị trí địa lý. Trong đó, Việt Nam nhanh chóng nổi lên và trở thành điểm đến đầy hứa hẹn và sự lựa chọn hàng đầu cho kế hoạch dịch chuyển sản xuất của các công ty đa quốc gia. Sở dĩ như vậy là bởi Việt Nam sở hữu vị trí địa lý đầy chiến lược, sở hữu lực lượng lao động tiềm năng, chi phí nhân công phải chăng và có sự tăng trưởng cao trong việc ứng dụng tự động và số hoá vào kinh doanh, sản xuất.
Dưới đây là những chia sẻ đến từ các chuyên gia thuộc Công ty tư vấn chuyển đổi kinh doanh hàng đầu Châu Á – Thái Bình Dương TMX về những tiềm năng nội tại của Việt Nam để trở thành điểm đến hàng đầu trong chiến lược Trung Quốc+1:
Việt Nam sở hữu nguồn lao động dồi dào, chi phí nhân công và vận hành thấp
Trong báo cáo mới nhất của TMX, ‘Sự dịch chuyển mạnh mẽ của chuỗi cung ứng – Cận cảnh chi phí kinh doanh ở Châu Á’, Việt Nam đang xếp thứ tư trên bảng xếp hạng các thị trường trong khu vực có giá cả hợp lý nhất, đứng sau Campuchia, Myanmar và Philipines, với tổng chi phí nhân công trung bình là $108,196/ tháng, chiếm 55% tổng chi phí hoạt động. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có thị trường lao động dồi dào, chiếm tới 57% dân số. Nguồn lao động chủ yếu tập trung phục vụ cho ngành sản xuất – ngành công nghiệp hàng đầu đóng góp 16% vào GDP cả nước[2].
Lực lượng lao động Việt Nam cũng được đánh giá có chất lượng cao và lành nghề. Điều này được kỳ vọng sẽ tiếp tục củng cố vị trí của Việt Nam trong trong thời gian tới khi nhà nước tiếp tục thúc đẩy và tạo điều kiện cho lĩnh vực đào tạo và phát triển tay nghề.
Việt Nam có chi phí vận hành cạnh tranh dẫn đầu khu vực
Việt Nam là một trong những thị trường có chi phí vận hành bình quân thấp nhất trong khu vực, chỉ cao hơn hai quốc gia Campuchia và Myanmar. Tổng chi phí hoạt động trung bình dao động từ khoảng $79,280 đến $209,087 mỗi tháng.
Đồng thời, Việt Nam cũng xếp thứ tư trong bảng xếp hạng các thị trường có chi phí cho thuê kho hợp lý nhất, với giá trung bình là $5/m2/tháng, đứng sau Thái Lan, Myanmar và Campuchia. Mức chi phí này được kỳ vọng sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm tới khi tốc độ xây dựng nhà kho trên cả nước ngày càng tăng. Theo Báo cáo Logistics của Bộ Công thương (MoIT) năm 2021, trong 9 tháng đầu năm 2021, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập, kinh doanh vận tải và kho bãi tăng 4.61% với số vốn tăng 43% so với cùng kỳ năm 2020.
Cũng trong báo cáo trên, các chuyên gia đánh giá Việt Nam là một quốc gia đầy tiềm năng trong khu vực nhờ vào những cam kết bảo đảm của chính phủ về việc giảm thuế quan, các quy định về thuế và sự trợ giúp từ các hiệp định thương mại tự do được thiết kế để hỗ trợ các doanh nghiệp mong muốn đầu tư vào thị trường Việt.
Sự xuất hiện của các khu công nghiệp càng giúp Việt Nam trở thành điểm đến đầy hấp dẫn để dịch chuyển sản xuất
Sản xuất và chế biến là hai lĩnh vực chủ yếu khi tiếp tục là nguồn thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam – chiếm gần 60% tổng vốn đầu tư vào năm 2020. Do đó, Chính phủ Việt Nam ngày càng đẩy mạnh việc xây dựng các khu công nghiệp nhằm phân bổ dòng vốn FDI đang ổn định này.
Tính đến tháng 5/2021, Việt Nam có 394 khu công nghiệp trên khắp cả nước với tổng diện tích đất tự nhiên là 121,900 ha. Năm 2021, thành phố Hồ Chí Minh đã dành ra hơn 300 ha đất để phát triển các khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tất cả các khu công nghiệp được xây dựng với định hướng đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp chuyên môn, từ đó rút ngắn quá trình di dời khi các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đặt chân vào Việt Nam.
Thị trường có sự thích ứng nhanh với số hoá và công nghệ tự động hoá
Báo cáo chuỗi cung ứng hàng năm của TMX, “Xây dựng lại Tốt hơn sau Đại dịch: Nhìn từ chuỗi cung ứng trong giai đoạn Bình thường mới” chỉ ra rằng, 60% các lãnh đạo Việt Nam tin rằng sẽ có nhiều ứng dụng công nghệ và công cụ kỹ thuật số được triển khai trong tương lai. Đồng thời, 58% các nhà lãnh đạo trong nước khẳng định sẽ ưu tiên áp dụng ngay các giải pháp kỹ thuật số mới nhất trong hoạt động kinh doanh của họ sau đại dịch.
Những con số trên đã phần nào phản ánh thực tế diễn ra tại Việt Nam. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đã và đang từng bước đầu tư vào các ứng dụng công nghệ và kỹ thuật số như công nghệ đám mây (18%), an ninh mạng (12,7%) và nâng cấp phần mềm, phần cứng để chuyển đổi kỹ thuật số (10.7%).
Nhìn chung, thị trường đang có những bước chuyển lớn để đón nhận và ứng dụng tự động hoá ngày càng nhiều. Tuy nhiên, đối với các công ty đang chưa biết phải bắt đầu từ đâu thì những công ty tư vấn chuyên nghiệp như TMX là người bạn đồng hành dành cho họ.
Đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong khu vực và trên thế giới của TMX làm việc với các doanh nghiệp nhằm phát triển chiến lược cho các chuỗi cung ứng số. Các chuyên gia sẽ tập trung chính vào đường lối kinh doanh và người tiêu dùng, mang lại các giá trị thương mại và lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như các công ty đa quốc gia đang trong quá trình tìm kiếm thị trường để chuyển đổi hoạt động các chuỗi cung ứng.
“Khi Việt Nam đang dần thích nghi với nền kinh tế “bình thường mới” và nỗ lực phục hồi sau đại dịch, chúng tôi nhận thấy đây là thời cơ chín muồi để thị trường này vươn lên và trở thành vùng đất vàng trong chiến lược Trung Quốc+1 nhờ vào vị trí chiến lược, lực lượng lao động có năng lực cao và khả năng tiếp nhận tự động hóa,” ông Andrew Maher, Giám đốc Quốc gia – TMX Việt Nam cho biết. “Tại TMX, chúng tôi luôn sẵn sàng để đồng hành cùng các doanh nghiệp muốn tận dụng cơ hội tuyệt vời này. Với những kinh nghiệm ở thị trường trong và ngoài nước, chúng tôi giúp các doanh nghiệp thiết lập toàn bộ kế hoạch cho chuỗi cung ứng và xác định các cơ hội hiện có để triển khai tự động hoá nhằm giảm thiểu chi phí vận hành”.
TMX hiện đang sở hữu phần mềm mô phỏng độc quyền, giúp xem xét và xác định mô hình chuỗi cung ứng phù hợp nhất với doanh nghiệp, bao gồm quy mô, vị trí, khả năng và mức độ tự động cho mọi nút trong mạng lưới của một doanh nghiệp, chẳng hạn như các nhà máy sản xuất, các trung tâm hợp nhất quốc tế, các trung tâm phân phối và các địa điểm hậu cần chặng cuối.
Việt Nam hứa hẹn là một mảnh đất màu mỡ cho các doanh nghiệp nước ngoài có mong muốn tái định vị và phục hồi trong bước dịch chuyển Trung Quốc+1. Điều đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những nước đi thận trọng để có thể tối ưu hoá vốn đầu tư và đảm bảo rằng các hoạt động và quy trình được áp dụng sẽ bền vững theo thời gian.
