Bộ Y tế vẫn đang ‘ì ạch’ giải ngân vốn đầu tư công


(TBTCO) – Tính đến ngày 20/10/2018, Bộ Y tế mới giải ngân được 596,9/5.260 tỷ đồng vốn đầu tư ngân sách nhà nước giao năm 2018, đạt 11% kế hoạch.


Chậm chủ yếu ở các dự án mới
Tổng số kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ Y tế là 31.972,84 tỷ đồng, trong đó: Vốn NSNN là 4.634,1 tỷ đồng; vốn cho 2 bệnh viện tuyến cuối thuộc Đề án 125 là 9.000 tỷ đồng; vốn trái phiếu chính phủ là 6.250 tỷ đồng; vốn nước ngoài là 12.088,74 tỷ đồng.
Năm 2016, Bộ Y tế đã giải ngân đạt 81% kế hoạch; năm 2017 giải ngân đạt 54,7% kế hoạch. Năm 2018, tính đến ngày 20/10, Bộ Y tế mới giải ngân được 596,9/5.260 tỷ đồng vốn đầu tư ngân sách nhà nước giao năm 2018, đạt 11% kế hoạch; vốn kéo dài thời gian thực hiện và vốn đầu tư chuyển từ năm 2017 sang năm 2018 giải ngân đạt 41% kế hoạch.
Về nguyên nhân chậm, ông Cao Ngọc Ánh – Trưởng phòng Đầu tư và quản lý doanh nghiệp, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ Y tế cho biết, đối với các dự án vốn NSNN, tỷ lệ giải ngân thấp tập trung ở các dự án khởi công mới. Các dự án này mới chỉ giải ngân được một số chi phí tư vấn và chi phí khác. Sau khi có thông báo vốn các đơn vị mới tổ chức lựa chọn nhà thầu và triển khai thi công xây lắp, các thủ tục này kéo dài từ 3 – 6 tháng.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Xây dựng, các dự án sử dụng vốn NSNN và vốn nhà nước ngoài ngân sách phải thực hiện tổ chức quản lý dự án thông qua ban quản lý dự án chuyên ngành/khu vực, thông qua hợp đồng ủy thác với ban quản lý dự án chuyên ngành, nhưng hình thức này chưa được hướng dẫn cụ thể nên các đơn vị còn lúng túng.
Đối với Đề án 125, nguyên nhân chậm giải ngân vốn của Dự án cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Dự án cơ sở 2 Bệnh viện hữu nghị Việt – Đức là do kế hoạch tiến độ của các dự án (theo Đề án 125) đặt ra 2 – 3 năm là quá ngắn, rất khó thực hiện và không thể hoàn thành trong 3 năm. Lý do vì thực tế thời gian triển khai các dự án xây dựng bệnh viện lớn, hiện đại từ lúc chuẩn bị đầu tư, khởi công và hoàn thành thường từ 5 đến 7 năm.
Bên cạnh đó, thời gian đặt ra cho công tác thiết kế lại quá ngắn; thời gian cho công tác thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán kéo dài nên phải chờ đợi lâu do việc chuyển đổi giữa Luật Xây dựng cũ và Luật Xây dựng mới.
Đối với các dự án từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ, các dự án được bố trí vốn năm 2018 chưa giải ngân được do các dự án đều là khởi công mới nên sau khi được giao kế hoạch vốn, các chủ đầu tư mới bắt đầu tiến hành chuẩn bị làm các thủ tục giải phóng mặt bằng, tổ chức đấu thầu. Do đó, các chủ đầu tư chưa có khối lượng nghiệm thu thanh toán gửi kho bạc nhà nước.
Bộ Y tế được đầu tư 8 dự án, đến nay có 6 dự án đã hoàn thành thủ tục phê duyệt dự án, trong đó có 1 dự án đã được bố trí vốn 2017, còn lại 2 dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư.
Đối với các dự án ODA, trong 12 dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn vốn nước ngoài 2016 – 2020 do Bộ Y tế triển khai, có 2 dự án hiện nay đang chậm tiến độ do một số vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng, công tác tư vấn thiết kế nên chưa đủ điều kiện giải ngân theo quy định và 1 dự án đang làm thủ tục gia hạn thời gian giải ngân.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công
Theo ông Ánh, cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công và các nghị định hướng dẫn nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện Luật Đầu tư công như nguồn vốn đầu tư công, điều chỉnh chủ trương đầu tư, quản lý chương trình mục tiêu quốc gia.
Cụ thể, không nên quy định nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, nguồn thu cả đơn vị sự nghiêp công lập để lại cho đầu tư, nguồn phí, lệ phí được để lại đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư công.
Bên cạnh đó, chỉ quy định điều chỉnh chủ trương đầu tư trong trường hợp làm tăng quy mô, tăng tổng mức đầu tư của chương trình, dự án mới phải thẩm định lại nguồn vốn và khả năng cân đối vốn. Đối với trường hợp điều chỉnh giảm tổng mức đầu tư dẫn đến việc làm giảm quy mô thì không cần thẩm định lại nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, mà giao cho cơ quan quyết định chủ trương đầu tư điều chỉnh trong quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định phê duyệt điều chỉnh dự án.
Cũng theo ông Ánh, các dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư công, nhưng quy trình quản lý cần theo hướng rút gọn hoặc có quy định riêng để hài hòa về thủ tục giữa quản lý của Việt Nam và nhà tài trợ.
Đối với các dự án thuộc kế hoạch vốn đầu tư nguồn NSNN, ông Ánh đề xuất bố trí vốn hàng năm theo tiến độ để đảm bảo đủ vốn triển khai dự án, vì đến năm 2018 mới bố trí được khoảng 50% kế hoạch vốn trung hạn 2016 – 2020, nên rất nhiều dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư nhưng không có vốn để khởi công./.


Bùi Tư