“Bị cáo bị oan. Bị cáo cho rằng trong quá trình điều hành ngân hàng có một số thiếu sót về mặt nghiệp vụ nhưng về cơ bản những thiếu sót đó không phải là hành vi cố ý làm trái”, nguyên CEO Navibank cho biết tại tòa.
Trong phần xét hỏi chiều ngày 28/2, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tiến hành xét hỏi các nguyên lãnh đạo Ngân hàng TMCP Nam Việt (NaviBank), trong đó có bị cáo Lê Quang Trí, nguyên Tổng giám đốc Navibank.
Chủ tọa: Bị cáo có ý kiến gì về cáo trạng truy tố đối với tội danh của mình?
Bị cáo Lê Quang Trí: Bị cáo bị oan. Bị cáo cho rằng trong quá trình điều hành ngân hàng có một số thiếu sót về mặt nghiệp vụ nhưng về cơ bản những thiếu sót đó không phải là hành vi cố ý làm trái, đặc biệt hành vi đó không gây ra hậu quả cho nên không cấu thành nên tội cố ý làm trái.
Bị cáo cho biết bản chất các hợp đồng mà các nhân viên Navibank ký vay tiền của chính Navibank là như thế nào? Chủ tọa hỏi. Bản chất là hợp đồng vay thế chấp bằng các hợp đồng tiền gửi ở các tổ chức tín dụng khác. Bị cáo Trí trả lời.
Cứ cho đây là các hợp đồng vay, theo bị cáo việc cho vay tín dụng như vậy có đúng Luật TCTD?
Bị cáo trả lời trong Luật TCTD không có điều khoản nào cấm việc này.
Bị cáo giữ chức vụ gì ở Hội đồng Alco và Hội đồng tín dụng Navibank?
Bị cáo giữ Phó Chủ tịch ở Hội đồng Alco và Phó Chủ tịch hội đồng tín dụng Navibank.
Đối với các hợp đồng trong vụ án cho các nhân viên mình vay và cụ thể sau đó còn lại 4 nhân viên liên quan đến số tiền 200 tỷ đồng (bị Huyền Như chiếm đoạt). Khi bị cáo cho vay như vậy, trong hồ sơ trình Hội đồng tín dụng để xét cho vay có kèm theo tờ trình phương án kinh doanh không?
Quy chế 1617 đề cập cho vay phải có phương án vay vốn. Nhưng khoản vay có thế chấp bằng giấy tờ có giá thì còn được điều chỉnh bởi Công văn 1132 ngày 18/10/2002 của NHNN, phương án vay vốn có thể không nhất thiết là phương án riêng mà có thể đề cập trong giấy đề nghị vay vốn. Các hồ sơ khoản vay của nhân viên vay Navibank được cầm cố bằng hợp đồng tiền gửi, nguồn trả nợ chính là các khoản tiền gửi này khi đến hạn. Xét về phương án trả nợ thì khoản vay này hoàn toàn bảo đảm khả năng trả nợ.
Bị cáo là Phó Chủ tịch Hội đồng tín dụng, theo quy định của ngân hàng khi giải quyết cho vay tiêu dùng có quy định hạn mức không?
Không quy định tối đa bao nhiêu tiền.
Khi hồ sơ trình ra Hội đồng tín dụng, cụ thể biên bản họp Hội đồng tín dụng ngày 12/5/2011, bị cáo giải quyết cho vay với trường hợp Lê Thị Thu Hương với số tiền đề nghị cấp hơn 42 tỷ đồng, lãi suất 22,5%/năm… Như vậy tại thời điểm đó, khách hàng Hương có tài sản đảm bảo là gì chưa?
Tài sản đảm bảo là Hợp đồng tiền gửi với Vietinbank CN Nhà Bè đã được ký kết.
Trên hợp đồng tiền gửi thế chấp cho bị cáo để đảm bảo khoản vay hơn 42 tỷ thì lãi suất huy động của Vietinbank CN Nhà Bè là bao nhiêu?
Bị cáo không nhớ rõ.
Theo tài liệu điều tra thì hợp đồng tiền gửi là 14%. Bị cáo giải quyết cho nhân viên vay với lãi suất 22,5%/năm. Bị cáo có thấy nghịch lý không?
Không có gì nghịch lý. Vì tại thời điểm đấy với hợp đồng tiền gửi, ngoài lãi suất ghi trên hợp đồng tiền gửi là 14%/năm thì theo chính sách của từng ngân hàng khi nhận tiền gửi của khách, ngân hàng lúc nào cũng chào thêm phần giống như phần chăm sóc khách hàng. Cộng hai phần đấy thì bằng lãi suất Navibank cho vay.
Người ta gửi có 14% mà bị cáo cho người ta vay 22,5% thì như vậy nếu so sánh phương pháp an toàn của Luật TCTD để thu hồi vốn vay thì bị cáo có thấy an toàn không?
Rất an toàn. Như đã trình bày thì ngoài lãi suất ghi trên hợp đồng thì có lãi suất chênh lệch.
Làm sao bị cáo biết ngoài 14% người ta có thỏa thuận lãi suất ngoài?
Dạ biết, thời điểm đó tôi biết.
Như bị cáo trình bày, bị cáo là Phó Chủ tịch HĐTD khi họp là giải quyết cho nhân viên mình vay với lãi suất cho vay là 22,5%/năm. Tại thời điểm đó xét cho vay hay không là căn cứ hợp đồng tiền gửi thì lãi suất ghi 14%/năm. Làm sao khả năng bị cáo có thể thu được lãi theo như thỏa thuận. Ai báo cho bị cáo phần lãi suất ngoài đấy?
Anh Đoàn Đăng Luật (nguyên Trưởng Phòng kinh doanh tiền tệ) được Vietinbank CN Nhà Bè chào với lãi suất huy động như vậy.
Như vậy bị cáo thừa nhận lãi suất ngoài là do Luật báo chứ không phải nhân viên Hương báo với bị cáo và báo trong phương án vay vốn Navibank đúng không?
Dạ đúng
Sau khi tiền nhận lãi suất ngoài nhận được đem về cho ai quản lý?
Tôi chỉ tham gia điều hành chung.
Có nghe ai nói tiền lãi suất ngoài thì chia kiểu gì không hoặc sử dụng như thế nào không?
Tôi chỉ biết tất cả tiền lãi nhận được từ Vietinbank gồm lãi trên hợp đồng và lãi ngoài thì được cộng lại là lãi của các hợp đồng tiền vay.
Bị cáo giải thích thế nào, HĐXX thắc mắc bản thân bị cáo nói các nhân viên Navibank vay tiền của ngân hàng đi gửi Vietinbank để hưởng lãi chênh. Tất cả khoản này sau đó đem về nộp lại cho Navibank bằng đúng lãi suất vay. Thế họ đi vay, đi gửi làm gì?
Các nhân viên thực hiện theo đúng nghiệp vụ ngân hàng phân công.
Như vậy đây đâu phải là bản chất của các hợp đồng này là đi vay mà họ thực hiện yêu cầu của ngân hàng Navibank cầm tiền của Navibank đem gửi tiền vào Vietinbank để hưởng lãi suất ngoài rồi đem về nộp lại cho Navibank, đó mới là bản chất vụ việc, chủ tọa nêu.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng có kê biên tài sản gì của bị cáo không?
Dạ không.
Với hành vi trên, VKS truy tố bị cáo về tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bị cáo thấy có đúng không?
Bị cáo cho rằng không đúng.
Huyền Trâm
