Ưu đãi đầu tư của Việt Nam hấp dẫn so với khu vực

Ưu đãi đầu tư của Việt Nam hấp dẫn so với khu vực


(TBTCVN) – Các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong thu hút đầu tư của Việt Nam là rất hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Vấn đề hiện nay là làm sao cân đối được ngành nghề, địa bàn thực sự cần thu hút đầu tư để có chính sách phù hợp.


Đây là ý kiến của ông Bùi Ngọc Tuấn, Phó Tổng giám đốc Deloitte Việt Nam trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN về chủ đề chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn mới.
PV: Thưa ông, ông đánh giá thế nào về chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam so với các nước trong khu vực?
 

Ông Bùi Ngọc Tuấn

– Ông Bùi Ngọc Tuấn: Chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam so với khu vực có nhiều tiến bộ và có thể nói là có ưu điểm khá mạnh so với các nước. Đặc biệt, mức thuế suất thuế TNDN 20% của Việt Nam là rất hấp dẫn trong khu vực, gần ở mức thấp nhất, chỉ cao hơn so với Singapore.
Nhìn bề ngoài, mức thuế suất đó cộng với các chính sách ưu đãi thuế TNDN với ngành nghề kinh doanh và địa bàn đầu tư tương đối rộng là khá hấp dẫn. Vấn đề hiện nay vẫn là làm sao chúng ta cân đối được ngành nghề thực sự cần thu hút, cũng như địa bàn nào cần phải thu hút đầu tư để có chính sách phù hợp. Cùng với đó, cần có các chính sách mang tính chuyên ngành từ các bộ, ngành liên quan để cùng hỗ trợ thì sẽ tạo sức hút lớn hơn với dòng vốn FDI trong thời gian tới.
­PV: Có thực tế là, sau khi loại trừ các ưu đãi về ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn…  thì mức thuế suất thuế TNDN của Việt Nam với nhiều DN FDI chỉ còn khoảng 1214%, rất thấp so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, có ý kiến đưa ra nói rằng, DN phải đóng cao hơn mức này nhiều. Theo ông, điều này là vì sao?
– Ông Bùi Ngọc Tuấn: Vấn đề ở đây là sự tương tác về trao đổi thông tin giữa DN và cơ quan thuế có hạn chế. Do đó, DN có thể chưa hiểu đúng về cách xử lý các nghiệp vụ liên quan. Ví dụ như khoản nào tính vào doanh thu, khoản nào tính vào thu nhập, khoản nào tính vào chi phí được trừ. Đối với các chi phí được trừ hoặc doanh thu phải cộng vào đó thì các giấy tờ đi kèm theo ra sao…, nếu thiếu sẽ được coi là không tuân thủ. Nhiều DN, kể cả DN FDI, DN nhà nước hay DN tư nhân trong nước đều có thể mắc phải vấn đề này. Nguyên nhân có thể do không tuân thủ được, hoặc do không có những tư vấn hiệu quả từ các đơn vị bên ngoài để nâng cao tính tuân thủ về thuế. Điều này dẫn đến việc khi cơ quan thuế thanh tra, đối chiếu các quy định liên quan, nếu không đảm bảo thì họ sẽ loại các chi phí được trừ; từ đó làm tăng thu nhập chịu thuế, tức là thuế thực tế cao hơn thuế tiêu chuẩn.
Đặc biệt, với các vấn đề liên quan đến ưu đãi đầu tư, theo quy định là DN tự đánh giá, tự áp dụng thay vì cơ quan cấp phép đầu tư ghi rõ trên giấy phép đầu tư như trước đây. Do đó, trong nhiều trường hợp DN đánh giá ưu đãi đầu tư của mình không đúng, dẫn đến việc khi thanh tra thuế vào đánh giá lại điều kiện được hưởng ưu đãi của DN thì thấy rằng DN không đáp ứng được các điều kiện ưu đãi hoặc thiếu giấy tờ liên quan đến chứng minh đủ điều kiện ưu đãi. Từ đó, DN bị điều chỉnh tăng mức thu nhập chịu thuế cũng như các mức phạt liên quan.
PV: Ý kiến của một số chuyên gia cho rằng, ưu đãi đầu tư của Việt Nam quá dàn trải, ôm đồm và lại manh mún. Ông có đồng ý với điều này và có cho rằng cần phải sửa đổi?
– Ông Bùi Ngọc Tuấn: Tôi cho rằng cũng không hẳn là dàn trải hay manh mún. Các địa bàn ưu đãi đầu tư hiện tại đã được thu hẹp nhiều so với trước đây, thể hiện được mục tiêu của Chính phủ trong phát triển kinh tế là tập trung thu hút FDI vào các lĩnh vực mà Việt Nam cần phát triển. Tuy nhiên, giai đoạn tới, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế trước tình hình mới, tôi cho rằng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần nghiên cứu cùng với các bộ, ngành khác để xem xét chính sách tập trung thu hút vào những ngành mang lại giá trị gia tăng cao như nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao hoặc tài chính, du lịch, giáo dục… để tạo ra các giá trị cao hơn, bền vững hơn.
PV: Trong quá trình góp ý sửa đổi các chính sách ưu đãi đầu tư, có nhiều ý kiến chỉ ra rằng, các chính sách ưu đãi cho DN trong các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) là chưa hợp lý bởi bản thân các KCN, KCX này đã nằm ở nơi thuận lợi để đầu tư. Ông đánh giá thế nào về điều này?
– Ông Bùi Ngọc Tuấn: Theo chúng tôi được biết, trong quá trình xây dựng dự thảo sửa đổi các luật thuế, Bộ Tài chính đã có đề xuất bỏ ưu đãi đối với DN hoạt động ở các KCN, KKT. Lý do là các ưu đãi ở KCN, KKT cũng tương đương với ưu đãi ở các địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư hầu như không muốn đầu tư vào địa bàn khó khăn, bởi điều kiện hạ tầng ở các vùng này không thể thuận lợi bằng các KCN, KKT…
Do đó, rõ ràng DN lựa chọn các KCN, KKT thay vì các địa bàn khó khăn. Như vậy là chính sách ưu đãi đầu tư cho địa bàn khó khăn sẽ không đạt mục tiêu.
PV: Xin cảm ơn ông!
 
* Ông Wim Douw, Chuyên gia cao cấp về chính sách đầu tư, Nhóm WB:
Cần hệ thống giám sát, đánh giá hiệu quả các chính sách ưu đãi
 

Ông Wim Douw

Việt Nam nên thống kê toàn diện và toàn bộ các chính sách ưu đãi dành cho nhà đầu tư quy định tại tất cả các luật khác nhau, các cấp chính quyền, tập trung hóa thông tin về điều kiện áp dụng… Đồng thời, nên cân nhắc chuyển các quy định về ưu đãi từ các quy định khác nhau vào tập trung trong những luật về thuế hay những quy định khác (như Luật Thuế xuất nhập khẩu).
Ngoài ra, Việt Nam cũng rất cần có một hệ thống giám sát, đánh giá đo lường tác động của các chính sách ưu đãi, để theo dõi hiệu quả hoạt động của cả chi phí và lợi ích của chính sách ưu đãi được áp dụng. Việc xác định rõ ràng kết quả dự kiến đóng vai trò hết sức quan trọng trong đánh giá hiệu quả chính sách ưu đãi cũng như đảm bảo sự bền vững của những chính sách này.
 
* Ông Lê Duy Thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc:
Môi trường đầu tư minh bạch là điều kiện tiên quyết
 

Ông Lê Duy Thành

Qua phân tích về quá trình thực hiện các chính sách ưu đãi thời gian qua ở Việt Nam và tỉnh Vĩnh Phúc, một thực tế chứng minh rằng, ưu đãi đầu tư không phải là điều kiện quan trọng nhất khi nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt Nam. Cụ thể, việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế cao đối với các dự án đầu tư vào địa bàn kém phát triển song các địa bàn này vẫn khó thu hút đầu tư; hoặc các chính sách ưu đãi cao đối với các dự án đầu tư vào một số lĩnh vực như nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản nhưng việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực này còn khiêm tốn. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam khá phức tạp, do phạm vi ưu đãi còn dàn trải (bao gồm cả ưu đãi theo lĩnh vực và ưu đãi theo địa bàn).
Để thu hút các nhà đầu tư, ngoài các chính sách ưu đãi đầu tư thì vấn đề môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch; các thủ tục hành chính được giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời; chính sách ổn định, chính quyền vào cuộc để kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN là những yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư khi tìm kiếm cơ hội đầu tư hết sức quan tâm.
 
* Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội tư vấn Thuế Việt Nam:
Nghị định 20 quy định cụ thể, minh bạch hơn về giao dịch liên kết
 

Bà Nguyễn Thị Cúc

Từ 1/5/2017, Nghị định số 20/2017/NĐ-CP (20) và Thông tư số 41/2017/TT-BTC (41) quy định về quản lý thuế đối với các đơn vị có giao dịch liên kết đã có hiệu lực. Với việc triển khai các quy định của Nghị định 20 và Thông tư số 41, DN đã cảm nhận được quan điểm đổi mới với nhiều nội dung thuận lợi, rõ ràng hơn so với quy định trước đây. Định nghĩa về các bên có mối quan hệ liên kết rõ ràng, minh bạch hơn. Mối quan hệ liên kết trong trường hợp kiểm soát đầu vào và đầu ra được loại bỏ. Nội dung thay đổi này đã xử lý được các vướng mắc thường tranh chấp giữa các DN và cơ quan thuế trước đây.
Ngưỡng xác định tỷ lệ vốn, tỷ lệ nợ trên vốn trong xác định mối quan hệ liên kết được sửa đổi. Ngoài ra, một số khái niệm, nguyên tắc mới phù hợp với hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và các chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS). Các trường hợp miễn trừ nghĩa vụ kê khai và lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được quy định cụ thể, đi cùng với hướng dẫn chi tiết các trường hợp chi phí dịch vụ được trừ, không được trừ khi xác định thu nhập tính thuế thu nhập DN.
DN cần xác định tìm kiếm lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh doanh thông qua các biện pháp tích cực như tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm thay vì tìm kiếm phương pháp tối đa hóa lợi nhuận bằng biện pháp chuyển giá, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, vừa không bình đẳng, cạnh tranh không lành mạnh với các DN cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.


Hoàng Yến ()

bình luận

Chuyên mục: THỜI SỰ


Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được giữ bí mật.
Bắt buộc điền thông tin*