Kịp thời đánh giá rủi ro trong sử dụng vốn vay nước ngoài

Kịp thời đánh giá rủi ro trong sử dụng vốn vay nước ngoài


(TBTCO) – Thường xuyên giám sát hạn mức vay ODA và vay ưu đãi cho đầu tư, kịp thời đánh giá những rủi ro có thể ảnh hưởng đến cân đối ngân sách… là một trong những giải pháp được Chính phủ tập trung triển khai để quản lý, sử dụng hiệu quả vốn vay nước ngoài.


Ngày 15/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã tiến hành xem xét việc thực hiện các nghị quyết của UBTVQH về giám sát chuyên đề từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018 và tổ chức chất vấn, trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội.  Giải ngân thấp, một số dự án khó khăn trả nợ  
Tại phiên họp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã trình bày báo cáo tóm tắt tổng hợp việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết năm 2018.
Về nội dung quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, trên cơ sở Nghị quyết số 582/NQ-UBTVQH14 ngày 5/10/2018 của UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/1/2019 về một số nhiệm vụ giải pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài. Các bộ, ngành và địa phương đã tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ được phân công, tổ chức quán triệt và cụ thể hóa thông qua việc xây dựng kế hoạch trong đó xác định rõ các hoạt động và thời hạn hoàn thành. 
Theo đó, công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài đã đạt được các kết quả đáng khích lệ. Hiệu quả các chương trình, dự án đã được nâng cao, các chỉ tiêu nợ công năm 2018 thấp hơn mức dự kiến tại Nghị quyết 01/NQ-CP và báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội. Các mức dư nợ đều thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 – 2020. Quy mô danh mục nợ chính phủ đến cuối năm 2018 được kiểm soát tốt ở mức 50% GDP, so với mức 52,7% vào năm 2016 và 51,7% vào năm 2017, trong đó nợ nước ngoài chiếm 38,6%, nợ trong nước chiếm 61,4%. 
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác này vẫn còn những tồn tại, hạn chế như tỷ lệ giải ngân còn thấp so với kế hoạch giao. Một số dự án đã ký kết xong nhưng chưa được các bộ, ngành tổng hợp báo cáo cơ quan có thẩm quyền đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và giải ngân cam kết với nhà tài trợ; chất lượng chuẩn bị dự án chưa đạt yêu cầu, quá trình thực hiện dự án chậm tiến độ làm tăng tổng mức đầu tư và chi phí, công tác giải phóng mặt bằng, bố trí vốn đối ứng không đầy đủ và kịp thời. Một số dự án vay về cho vay lại có khó khăn trong việc trả nợ.
Theo báo cáo do Bộ trưởng Mai Tiến Dũng trình bày, nguyên nhân của tình trạng này là do việc huy động vốn phụ thuộc vào việc xác định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020, khả năng vay và trả nợ của các chính quyền địa phương và chính sách, điều kiện vay của nhà tài trợ. Một số văn bản pháp luật chưa nhất quán, khác biệt về quy trình, thủ tục và chính sách của Việt Nam và nhà tài trợ về đấu thầu, giải phóng mặt bằng và tái định cư, thủ tục giải ngân rút vốn,… Công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng văn kiện dự án, tổ chức thực hiện ở các bộ, ngành, địa phương làm chưa tốt. Quy định về giải ngân song song cả nguồn vốn ngân sách trung ương cấp phát và vốn nước ngoài địa phương vay lại theo cơ chế tài chính trong nước đã ảnh hưởng đến khả năng giải ngân vốn nước ngoài của dự án. Cơ chế quản lý và phân bổ vốn chưa rõ ràng, cụ thể nên các chương trình, dự án gặp khó khăn trong quá trình thực hiện.Hoàn thiện thể chế về thu hút, quản lý, sử dụng ODA 
Trước tình hình này, Chính phủ cho biết sẽ rà soát lại hệ thống pháp luật và tình hình thực hiện về nguồn vốn vay nước ngoài; xây dựng chiến lược huy động vốn vay nước ngoài phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020 đối với nguồn vốn nước ngoài; đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán…
Trong đó các giải pháp cụ thể là tiếp tục hoàn thiện thể chế về thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi; đẩy mạnh hài hòa quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ, hoàn thiện khung khổ pháp lý theo hướng tiếp cận tới các chuẩn mực quốc tế. Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật sau khi Luật Đầu tư công (sửa đổi) được Quốc hội thông qua, bao gồm thay thế Nghị định số 132/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Tổ chức đánh giá Luật Quản lý nợ công sau 1 năm thực hiện để chủ động xử lý các tồn tại, vướng mắc. 
Đồng thời, thường xuyên giám sát hạn mức vay ODA và vay ưu đãi cho đầu tư phát triển cho giai đoạn trung hạn 2016 – 2020 theo nghị quyết của Quốc hội; kịp thời đánh giá những rủi ro có thể ảnh hưởng làm tăng hạn mức và ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước trong trung hạn. 
Chính phủ cũng cho biết sẽ tiếp tục tiều hành việc huy động, quản lý, sử dụng nguồn lực ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài theo hướng cân đối giữa vốn vay nước ngoài với vốn vay trong nước một cách hợp lý, hiệu quả và đảm bảo lợi ích quốc gia trong cả ngắn hạn và dài hạn, các chỉ tiêu an toàn nợ công đã được Quốc hội quyết định, nhất là nợ nước ngoài của Chính phủ./.

Nhiều dự án sử dụng ODA chưa hiệu quả 

Tại phiên chất vấn của UBTVQH, trình bày báo cáo tổng hợp nội dung thẩm tra về việc thực hiện các nghị quyết, kết luận của UBTVQH về giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, thực hiện Nghị quyết số 582/NQ-UBTVQH14, Luật Đầu tư công đã được sửa đổi và định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài giai đoạn 2018 – 2020, tầm nhìn 2021 – 2025 được ban hành.
Việc huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội với chi phí thấp và mức độ rủi ro hợp lý được thực hiện cơ bản là tốt. Mức dư nợ công thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 – 2020; quy mô, danh mục nợ chính phủ được kiểm soát. Đã trình Quốc hội cho phép tăng tổng mức vốn nước ngoài để bố trí vốn cho các dự án được ký kết hiệp định nhưng chưa có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn. 

Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài chưa có chuyển biến mạnh mẽ; vẫn tồn tại những dự án sử dụng vốn vay ODA chưa hiệu quả, từ khâu huy động (đàm phán hiệp định, điều kiện vay), đến việc thực hiện, sử dụng vốn. Công tác phân bổ, giao kế hoạch cho từng dự án cụ thể chưa được thực hiện kịp thời. Mức giải ngân vốn ODA, vốn vay ưu đãi cấp phát từ ngân sách trung ương rất thấp.


H.Y

Chuyên mục: THỜI SỰ


Viết bình luận

<