“Cơ chế dành cho đặc khu cạnh tranh được với quốc tế”

“Cơ chế dành cho đặc khu cạnh tranh được với quốc tế”


Đó là khẳng định của ông Trần Duy Đông, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khi trao đổi về dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

Theo ông Đông, khi xây dựng Luật Đặc khu, chương 3 (cơ chế chính sách) là rất quan trọng, ảnh hưởng toàn bộ đến việc thu hút đầu tư và cạnh tranh quốc tế. Trước khi có cơ chế chính sách, phải xác định mục tiêu chúng ta xây dựng đặc khu là gì. Việc này ngay trong tờ trình của Chính phủ đã xác định rõ các mục tiêu. 
Thứ nhất, xây dựng 3 đặc khu nhằm tạo một môi trường tầm cỡ quốc tế, nơi đáng sống, nơi tăng trưởng nhanh và nơi an toàn cho con người Việt Nam.
Mục tiêu thứ 2 là chúng ta phải xác định một số ngành nghề trọng điểm cạnh tranh được với xu hướng ở các đặc khu trên thế giới đang triển khai mà phù hợp với Việt Nam.
“Hiện chúng ta đang tập trung thu hút vào các dự án công nghệ cao, tập trung các chính sách phát triển về việc sáng tạo, phát triển cho thương mại, cho tài chính, cho công nghiệp, văn hóa, du lịch… Đây là những đặc thù của chúng ta”, ông Đông cho biết.
Theo Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế, hiện nay chúng ta đi sau các nước thì  cơ chế chính sách phải so sánh với quốc tế để tạo được xu thế mới, một cái luật mới.
“Chúng ta phải biết thế giới đang đi đến đâu và họ đang ở trình độ nào. Do đó, cơ quan soạn thảo, bao gồm rất nhiều bộ, ngành cũng xác định trên quan điểm và cũng được các cơ quan Quốc hội, Chính phủ đồng tình là xây dựng cơ chế, chính sách để đảm bảo vượt trội.
Vượt trội ở đây nghĩa là vượt trội về cơ chế, chính sách chúng ta đã áp dụng cho khu kinh tế hiện nay. Vì sao vậy? Vì 3 khu này hiện đã làm kinh tế rồi, chúng ta phải so sánh từ mức đó”, ông Đông nói.
Các ưu đãi cạnh tranh được với quốc tế
Đề cập cụ thể hơn, Vụ trưởng Vụ Quản lý các khu kinh tế cho biết, khi xây dựng luật, Ban soạn thảo đã xác định ra 13 quốc gia, lãnh thổ được coi là thành công, như  Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Cuba, Nhật Bản và các quốc gia cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, như Thái Lan, Mianma, Indonesia…, từ đó xây dựng các cơ chế trong dự thảo luật thành 2 nhóm.
Nhóm thứ nhất về thể chế xây dựng môi trường kinh doanh. Quy định này chiếm một thời lượng rất lớn trong dự thảo luật. 27/85 điều nhưng 1/3 chỉ nói về cơ chế xây dựng môi trường kinh doanh.
Ví dụ, như thủ tục đầu tư đơn giản hơn, minh bạch hơn, thời gian để xác nhận hồ sơ cấp cho nhà đầu tư giảm bớt rất nhiều, các ngành nghề tư nhân kinh doanh thì từ 243 ngành giảm xuống 131 ngành, còn có thể mở rộng, giảm hơn. 
Những ngành nghề doanh nghiệp ở những khu chức năng, như thương mại tự do, hay việc tiếp cận các thủ tục về đấu thầu, cấp phép xây dựng cũng giảm đi rất nhiều, hay chúng ta muốn phát triển du lịch thì thời gian cấp visa cũng nhanh hơn… Đây là những chính sách rất lớn.
Nhóm thứ 2 xây dựng các nhóm chính sách ưu đãi về thuế. Hiện nay, các cơ chế đưa vào thấy rất nhiều nhưng thực chất các cơ chế này đang áp dụng cho các khu khác. Ví dụ như khu công nghiệp, khu kinh tế đều có ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, cá nhân… 
“Khi chúng tôi so sánh với các nước và quốc tế, tất cả các ưu đãi phải cao hơn nhưng chúng ta chỉ tập trung cho các ưu đãi cao hơn đối với các mục tiêu quan trọng nào đó, tức là các mục tiêu được ưu tiên. 
Chúng tôi đã so sánh và thấy rằng, chúng ta đảm đảo được về tổng thể, có chính sách về cả môi trường đầu tư có thể đảm bảo cạnh tranh được với các quốc gia, kể cả 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham khảo”, ông Đông nói.

VẠN XUÂN

bình luận

Chuyên mục: THỜI SỰ


Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được giữ bí mật.
Bắt buộc điền thông tin*