Crowdfunding tại Việt Nam – vẫn chờ ngày cất cánh

Crowdfunding tại Việt Nam – vẫn chờ ngày cất cánh

Năm 1884, dự án xây dựng tượng Nữ thần Tự do đứng trước nguy cơ phá
sản do nguồn kinh phí xây dựng công trình này bị gián đoạn. Để cứu lấy dự án,
Joseph Pulitzer- người lúc này là chủ bút của nhật báo New York World – đã dùng
uy tín cá nhân để khởi động một cuộc vận động quyên góp. Chiến dịch vận động
của ông đã thu hút trên 120.000 người ủng hộ, đa số góp dưới một đô la mỗi người.
Chiến dịch quyên góp này của Joseph Pulitzer được coi là khởi nguồn cho hoạt
động gọi vốn cộng đồng – hay crowdfunding.

Crowdfunding được hiểu là hình thức huy động đóng góp tài chính từ phía
cộng đồng, các chủ dự án, sẽ kêu gọi trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các sàn gọi
vốn cộng đồng. Crowdfunding vẫn thường được nhắc đến khá nhiều khi điểm danh
các hình thức gọi vốn cho một dự án startup. Hình thức này hiện nay vô cùng phổ
biến trên thế giới, có thể điểm tới những cái tên đình đám như KickStarter,
IndieGoGo, GoFundMe, CircleUp… với những dự án gọi vốn lên tới hàng triệu đô
la Mỹ. Gọi vốn cộng đồng sẽ “chắp cánh” cho các ý tưởng, các sản phẩm, và hoàn
toàn để thị trường quyết định khả năng gọi vốn. Theo báo cáo của công ty nghiên
cứu thị trường Massolution, ngành công nghiệp gây quỹ cộng đồng trên toàn cầu
đã thu về được khoảng 34,4 tỷ USD vào cuối năm 2015. Và hiện trên thế giới có
đến hơn 2000 quỹ cộng đồng đang hoạt động.

Tại Việt Nam, hoạt động gọi vốn cộng đồng vẫn chỉ dừng ở các con số rất
khiêm tốn so với tiềm năng vốn có của crowdfunding. Trong khi số lượng startup
ở nước ta tăng lên từng ngày, và cộng đồng này luôn trong tình trạng “khát” vốn,
thì tại sao hoạt động gọi vốn phổ biến cho startup là crowdfunding lại vẫn “im hơi
lặng tiếng” ở Việt Nam như vậy?

Hoạt động crowdfunding trong nước mới chỉ có những hình ảnh rõ ràng
nhất từ năm 2013 sau sự xuất hiện của ig9.vn, sàn gọi vốn cộng đồng đầu tiên tại
Việt Nam. Là người đi tiên phong, Ig9 đã mang đến cho cộng đồng 40 dự án gọi
vốn thành công, với quy mô từ 7-15 triệu cho một dự án. Nhưng chưa hoàn thành
lời hứa ra phiên bản website mới, Ig9 đã âm thầm phải dừng cuộc chơi ngay trong
năm 2013. Đến năm 2015, có nhiều nền tảng crowdfunding hình thành như

Comicola (ra đời từ 2014), FirstStep ( ra đời năm 2015 nhưng đã dừng hoạt động
cuối năm 2016), Betado (ra đời từ 2015), Fundstart (ra đời từ 2015)…

Tính tới thời điểm hiện tại sau 4 năm kể từ khi IG9 xuất hiện, hoạt động gọi vốn
cộng đồng tại Việt Nam có giá trị các dự án đã tăng đáng kể, nhiều dự án có giá trị
lên tới hàng trăm triệu đồng. Đáng chú ý phải kể tới dự án gây quỹ Long Thần
Tướng của Comicola, gọi được 300 triệu đồng chỉ trong hơn hai tuần vào năm
2014. Và chỉ cần vài thao tác tìm kiếm trên các sàn gọi vốn cộng đồng hiện nay
như Comicola, Betado hay Fundstart ta cũng có thể nhìn thấy hàng chục dự án gọi
vốn thành công tương tự Long Thần Tướng.

Dù đã có những bước tiến thấy rõ tuy nhiên vấn đề niềm tin vẫn luôn “ám
ảnh” hình thức gọi vốn này. Hiện nay trên thế giới crownfunding tồn tại theo 4
hình thức chính: Ủng hộ dự án từ thiện (Donate), Nhận quà tri ân (Reward-based),

Góp cổ phần (Equity), Góp vốn cho vay (Lending). Nhưng ở Việt Nam chỉ có 2
hình thức hoạt động là Ủng hộ dự án từ thiện, và Nhận quà tri ân. Nếu không tính
tới các hoạt động từ thiện, thì các dự án crownfunding hiện nay tại Việt Nam đều
dưới dạng Nhận quà tri ân. Cách hoạt động như sau: Các dự án sẽ trình bày kế
hoạch, số tiền cần huy động và cam kết thời gian gửi lại sản phẩm cho người quyên
góp. Đồng thời, tất cả các sàn gọi vốn đều cam kết hoàn lại tiền nếu dự án không
gọi đủ vốn như mục tiêu ban đầu công bố. Theo ông Cao Quý Vũ Anh, sáng lập
viên sàn gọi vốn cộng đồng Fundstart, sở dĩ chỉ có 2 dạng thức này phát triển tại
Việt Nam, là bởi hình thức này hoạt động dưới hình thức pre-sale trong thương mại
điện tử. Người đóng góp sẽ dùng thẻ thanh toán, chi trả trước phần tiền của mình,
và đợi sản phẩm dự án hoàn thành sẽ chuyển về.

Gọi vốn theo hình thức cổ phần (equity -based crowdfunding), là hình thức
huy động góp vốn vào dự án mà lợi ích nhận được sẽ là cổ phần của công ty,
người ủng hộ trong trường hợp này là một nhà đầu tư hướng đến việc trở
thành một cổ đông trong công ty cổ phần;

Gọi vốn theo hình thức vay vốn (lending-based crowdfunding), là hình thức
những người góp vốn trở thành bên cho vay, hình thức này phù hợp với
những doanh nghiệp nhỏ không đủ tài sản thế chấp để vay ngân hàng, cần sự
trợ giúp của những người ủng hộ trong xã hội

Gọi vốn theo hình thức trả phần thưởng, quà tặng (reward-based
crowdfunding), chủ dự án sẽ dành cho người góp vốn những lợi ích (thể hiện
bằng gói quà tặng) được quy định sẵn phù hợp với số tiền mà người góp vốn
bỏ ra để đầu tư vào dự án mà không phụ thuộc vào lợi nhuận dự án thu được

Gọi vốn theo hình thức quyên góp từ thiện (donation-based crowdfunding)
thường được các tổ chức xã hội, tổ chức từ thiện, tổ chức phi chính phủ
đứng ra kêu gọi tài trợ để giúp đỡ những dự án không nhằm mục tiêu lợi
nhuận như hỗ trợ thiên tai, giúp đỡ người có hoàn cảnh đặc biệt…

Để an toàn, Nguyễn Khánh Dương nhà sáng lập ComiCola, và Betado lựa chọn
một giải pháp khá thủ công. Tất cả các dự án của ComiCola và Betado đều nhận
tiền qua các tài khoản ngân hàng của cá nhân của anh Dương. Anh chia sẻ rằng để
tránh các hình thức lừa đảo, anh chỉ nhận gây quỹ cho những chủ dự án mà chính

anh xác mình được thông tin. Và để đảm bảo an toàn dòng tiền, ComiCola và
Betado của anh Dương ký một hợp đồng với Cổng thanh toán Bảo Kim tạo một tài
khoản quản lý tiền, trong các trường hợp khiếu nại từ phía cá nhân về dấu hiệu lừa
đảo, dòng tiền có thể được đóng băng theo yêu cầu từ phía sàn. Trong những
trường hợp dự án gọi vốn thành công nhưng chủ dự án không thể trả lại sản phẩm,
phía sàn sẽ là người đứng ra sắp xếp hoàn lại một phần tiền cho các cá nhân đóng
góp.

Fundstart chọn lựa hướng đi khác. Để tránh những trường hợp cầm tiền bỏ
chạy, hay tiêu tiền của người đóng góp không đúng mục đích, Fundstart ký hợp
đồng với từng chủ dự án, để cam kết sử dụng tiền đúng như cám kết trong hồ sợ dự
án được đăng tải. Theo ghi nhận, Fundsart có ký kết một hợp đồng 3 bên giữa
Vietcombank, Napas và sàn. Khi bắt đầu mỗi dự án, Fundstart sẽ cùng chủ dự án
tạo ra một tài khoản vãng lai Vietcombank, tài khoản này sẽ nằm dưới quyền kiểm
soát của Fundstart, nhưng chính Fundstart cũng không được rút tiền ở đó ra. Tài
khoản chỉ có 2 nhiệm vụ, chuyển tiền đến chủ dự án, hoặc giả lại cho những người
gửi. Và thông qua cổng thanh toán điện tử Napas, các cá nhân có thể kiểm tra dòng
tiền bất kỳ lúc nào với thông tin tài khoản đó.

Theo nhà sáng lập sàn gọi vốn Fundstart chia sẻ, khi bắt đầu mỗi dự án phía
sàn sẽ kiểm tra thông tin cá nhân chủ dự án, các giấy tờ hợp đồng với nhà sản xuất
có công chứng… Sau đó tiến hành ký hợp đồng gọi vốn, quy định các điều khoản
cam kết sử dụng dòng tiền đúng công bố, tiến độ thực hiện với cộng động. Nếu
như các dự án không làm đúng các cam kết trong hồ sơ dự án, tức là không gửi sản
phẩm về cho người gây quỹ, hay dùng không đúng mục đích thì Fundstart sẽ khởi
kiện. “Trường hợp xấu nhất là tôi sẽ bị cả cộng đồng “ném đá” vì gọi vốn cho một
dự án kém chất lượng, chứ không phải bị cả cộng đồng truy đuổi vì tôi là kẻ lừa
đảo!” Ông Vũ Anh tuyên bố

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chỉ còn 3 sàn gọi vốn cộng đồng
chuyên nghiệp đang hoạt động bao gồm Comicola, Betado, Fundstart. Dù đã có rất
nhiều thay đổi nhằm thúc đẩy niềm tin từ cộng đồng những vẫn tồn tại những điểm
yếu có thể gây thiệt hại cho người góp vốn. Trường hợp của Comicola hay Betado
tất cả quy trình thực hiện đang dựa vào uy tín cá nhân duy nhất của Nguyễn Khánh

Dương là một hạn chế thấy rõ. Cá nhân người sáng lập viên của 2 sàn gọi vốn kể
trên không thể nào có đủ uy tín rộng lớn với cả cộng đồng. Điều này vô hình chung
sẽ “bóp nghẹt” khả năng gây quỹ phát triển sau này. Tạo ra được rất nhiều dự án
gọi vốn thành công cho cộng đồng chuyện tranh. Nhưng sẽ chỉ có một lượng cộng
đồng làm truyện tranh biết tới và tin tưởng Nguyễn Khánh Dương chứ không thể là
nhiều triệu người. Và số tiền các dự án gây quỹ của sàn cũng sẽ chỉ tiến tới
những con số 100-300 triệu như hiện nay, chứ khó có thể đạt được ngưỡng vài
trăm hay thậm chí hàng triệu đô như các sàn gọi vốn cộng đồng quốc tế.

Trong một trường hợp khác của Fundstart, dù đã rất nỗ lực đưa ra các văn
bản pháp lý nhằm tăng cường trách nhiệm từ chủ dự án với người đóng góp. Tuy
nhiên, khi được hỏi về khả năng kiểm soát dòng tiền trong một dự án, phía Napas-
một trong 3 bên đối tác quản lý tài chính các dự án gọi vốn của Fundstart cho biết,
Napas chỉ cung cấp chức năng điều khiển tài khoản cho sàn Fundstart, và
Vietcombank cùng chỉ xác mình giao dịch từ các tài khoản gửi đến chứ không thể
quản lý dòng tiền như theo luật tài chính quy định. Như vậy, cuối cùng việc chịu
trách nhiệm giám sát, hay tác động vào trạng thái dòng tiền góp vốn vẫn thuộc về
phía sàn. Tuy nhiên, trong chính sách hiện nay của các sàn gọi vốn cộng đồng đều
chỉ đưa ra cam kết hoàn lại tiền khi dự án gọi vốn không thành công chứ không
cam kết sẽ chịu trách nhiệm giám sát sau khi số tiền gọi vốn chuyển đến tay chủ dự
án. Nếu có thì cũng chỉ dừng ở mức cung cấp các tài liệu cần thiết cho cơ quan
chức năng khi xảy ra khiếu nại từ các cá nhân liên quan như Fundstart cam kết.

Khúc mắc cuối nằm chính ở góc độ pháp lý, gọi vốn cộng đồng không bị cấm hiện
tại trên thị trường, tuy nhiên cũng chưa có văn bản pháp lý nào để quản lý hình
thức này cả. Hiện nay, tư cách pháp lý của các sàn crownfunding này chưa được
pháp luật Việt Nam quy định rõ. Tuy nhiên, xét trên chức năng chính của tổ chức
này, có thể thấy, vai trò của họ là nhà môi giới cho sự “gặp gỡ” giữa bên gọi vốn
và bên góp vốn.

Crowdfunding đã có nhiều thay đổi tại nơi khởi nguồn của nó ở nước Mỹ
khi tổng thống Obama kí duyệt nghị định JOBSAct gỡ bỏ nhiều rào cản liên quan
đến trách nhiệm, quyền lợi của công ty gây quỹ cộng đồng hồi 2012. JOBSAct cho
phép các nguồn tài trợ bao gồm tín dụng, vốn mạo hiểm, quyên góp, không có các
yêu cầu trực tiếp cho hoàn vốn đầu tư được mô tả như “tài trợ mềm” hay “tài trợ
đám đông”. Tài trợ tạo điều kiện cho việc trao đổi quyền sở hữu vốn cổ phần trong
một công ty để đầu tư vốn thông qua một cổng thông tin tài trợ trên mạng như
Jumpstart Our Business Startups Act, được biết đến như tài trợ đám đông vốn chủ
sở hữu.

Theo bà Lê Hương Giang, ThS. Khoa Pháp luật kinh tế – Đại học Luật Hà
Nội, việc thiết lập cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động gọi vốn cộng đồng
(GVCĐ) sẽ đem lại lợi ích cho nhiều bên như: đảm bảo an toàn, tạo sự an tâm cho
người góp vốn; chuyên nghiệp hoá và tránh thất thu thuế từ nguồn lợi nhuận của
hoạt động cung cấp dịch vụ GVCĐ; giúp giảm thiểu các tranh chấp phát sinh giữa
các chủ thể tham gia vào hoạt động GVCĐ…

Hiện nay, các sàn gọi vốn đã tồn tại một thời gian ở Việt Nam, nhưng từ góc
độ pháp luật, chưa có quy định ghi nhận rõ tư cách pháp lý, quyền và nghĩa vụ của
tổ chức này đối với các bên trong quan hệ GVCĐ. Trên thực tế, theo chia sẻ của
những người hoạt động trong ngành, họ đang dựa trên các quy định của thương
mại điện tử (TMĐT), tuy nhiên trong nghị định số 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ
quy định về TMĐT có liệt kê các hình thức tổ chức hoạt động TMĐT, các trang
web GVCĐ không thuộc các hình thức tổ chức hoạt động TMĐT đã được liệt kê
mà thuộc trường hợp do Bộ Công thương quy định. Pháp luật cần quy định rõ tổ
chức cung cấp dịch vụ GVCĐ phải là thương nhân, bởi tổ chức này lấy hoạt động
cung cấp dịch vụ GVCĐ để làm thu nhập thường xuyên cho mình. Bên cạnh đó,
cần phải có quy định về tư cách của tổ chức cung cấp dịch vụ GVCĐ trong mối
quan hệ với bên chủ dự án gọi vốn và bên góp vốn, theo đó, tổ chức cung cấp dịch vụ GVCĐ là trung gian môi giới; từ đó, ràng buộc trách nhiệm của tổ chức cung
cấp dịch vụ GVCĐ với bên gọi vốn cũng như với các thông tin được công bố trên
website dùng để gọi vốn.

Có một khung pháp lý đầy đủ với sự quản lý của Nhà nước, người dân sẽ
cảm thấy an tâm hơn khi tham gia đầu tư vốn cho các dự án GVCĐ, từ đó, hoạt
động GVCĐ tại Việt Nam sẽ càng phát triển.

bình luận

Chuyên mục: KHỞI NGHIỆP, KINH DOANH


Viết bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ được giữ bí mật.
Bắt buộc điền thông tin*